vanban.org

Bản án 324/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 24/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Gia L (Nguyễn Ngọc H) phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"

Xử phạt: Nguyễn Gia L (Nguyễn Ngọc H) 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2024. Về biện pháp tư pháp: áp dụng các Điều 46, 47 - BLHS 2015: Buộc bị cáo truy nộp số tiền 100.000 đồng sung quỹ Nhà nước Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Gia L (Nguyễn Ngọc H) phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀNG MAI
TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 324/2024/HSST
Ngày: 24/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, TP HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Mai Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Lương

Bà Nguyễn Anh Thư

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Cán bộ Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, TP Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Thúy - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 12 năm 2024 tại Phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 334/2024/HSST ngày 29/11/2024 đối với bị cáo:

Họ tên: NGUYỄN GIA L (Nguyễn Ngọc H) - Sinh ngày 09/9/1987 tại Phú Thọ

HKTT: thôn 7, xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ

Chỗ ở: tổ 16, phường Đ quận H, Hà Nội

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Tự do

Trình độ văn hoá: 12/12

Con ông: Nguyễn Hồng T1

Con bà: Nguyễn Thị N

Có vợ là Trần Thị T và có 01 con sinh năm 2016

- TATS: Không

- Nhân thân: Ngày 29/10/2012, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 335/2012/HSST, Tòa án nhân dân quận B, TP Hà Nội xử phạt 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2012 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (đã xóa án tích)

(Danh chỉ bản số 564 do công an quận H lập ngày 11/11/2024)

Bắt quả tang và tạm giữ ngày 06/11/2024, tạm giam ngày 13/11/2024

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người liên quan: Chị Trần Thị T - SN 1985 (Vắng mặt)

HKTT: thôn L, xã K, huyện T, tỉnh Hà Nam

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 00 phút ngày 06/11/2024, tại khu vực trước cửa số nhà 194 phố Đ, phường Đ, quận H, TP Hà Nội, Tổ Công tác Công an phường Đ kiểm tra hành chính phát hiện và thu giữ của Nguyễn Gia L tại lòng bàn tay phải 01 gói giấy bạc nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ L khai số chất bột màu trắng bị thu giữ là Hêroin, L mua để bán kiếm lời. Tổ Công tác còn thu giữ của L 01 chiếc điện thoại di động Redmi màu xanh; 01 xe máy nhãn hiệu Vision Honda BKS 90B3-…32 và số tiền 100.000 đồng.

Cơ quan Điều tra đã tiến hành khám xét nơi ở của L tại tổ 16 phường Đ, quận H, TP Hà Nội nhưng không thu giữ được gì.

Tại Kết luận giám định số 8043/KL-KTHS ngày 16/11/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận: chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc thu giữ của Nguyễn Gia L là ma túy loại Hêroin có khối lượng là 0,179 gam.

Quá trình điều tra, L khai nhận: khoảng 20h ngày 06/11/2024, L điều khiển xe máy nói trên một mình đi đến khu vực cầu Đ thì có một nam thanh niên không quen biết (hiện không xác định được) đến trao đổi và đưa cho L 400.000 đồng để L đi mua 02 gói hêrôin mỗi người một gói để sử dụng. L đồng ý và nhận 400.000 đồng rồi đi đến khu vực cổng trường Đại học Xây dựng để mua của một người đàn ông không quen biết 02 gói hêrôin, nhưng người này chỉ còn 01 gói nên L đã mua gói ma túy với giá 200.000 đồng. Số tiền còn lại L dự định sẽ lấy tiền công mua hộ ma túy là 100.000 đồng, còn 100.000 đồng sẽ trả lại cùng ma túy cho người nhờ mua. Trên đường quay về, L mua xăng hết 80.000 đồng, còn 20.000 đồng thì L cất vào túi quần bên trái để chi tiêu cá nhân. Số tiền 100.000 đồng định trả lại cho người nhờ mua thì L cất ở túi quần bên phải. Khi đi đến trước cửa số nhà 194 phố Đ, phường Đ, quận H, TP Hà Nội thì bị bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng.

Cơ quan Điều tra đã xét nghiệm ma túy đối với L và cho kết quả dương tính.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không xác định được đối tượng đã bán ma túy và đối tượng nhờ L mua ma túy nên không có căn cứ xử lý

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu nhãn hiệu Honda Vision BKS 90B3-…32 màu xanh đã thu giữ, qua điều tra xe máy này mang tên chị Trần Thị T, là vợ của L. Chị T cho L mượn xe máy để sử dụng, không biết việc L dùng xe để đi mua bán ma túy nên Cơ quan Điều tra đã ra trao trả xe máy này cho chị T.

Tại bản cáo trạng số 184/CT-VKS-HM ngày 15/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, TP Hà Nội truy tố Nguyễn Gia L (Nguyễn Ngọc H) về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 - BLHS 2015.

Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố đúng hành vi bị cáo đã thực hiện, thấy được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, hối hận và đề nghị Tòa xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện VKSND quận Hoàng Mai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Xử phạt bị cáo từ 28 tháng đến 32 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy Cơ quan Công an đã thu giữ của bị cáo. Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng đã thu giữ của bị cáo. Buộc bị cáo phải truy nộp 100.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, có đủ cơ sở kết luận: khoảng 21 giờ 00 phút ngày 06/11/2024, tại khu vực trước cửa số nhà 194 phố Đ, phường Đ, quận H, TP Hà Nội, khi Nguyễn Gia L đang tàng trữ trái phép ma túy loại Hêroin có khối lượng là 0,179 gam với mục đích bán kiếm lời thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 - BLHS 2015. Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ pháp lý. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội. Bị cáo đã có một tiền án về ma túy, tuy đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu. Do vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Khi lượng hình có xem xét tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[3] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo và người đàn ông nhờ bị cáo mua ma túy hộ, do không xác minh được tên tuổi, địa chỉ của những người này nên Cơ quan Điều tra không xử lý là có căn cứ.

[4] Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo đang bị tạm giam, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về biện pháp tư pháp: số tiền 100.000 đồng bị cáo đã cầm của người đàn ông nhờ mua ma túy nhưng không mua được, bị cáo đã sử dụng số tiền này để chi tiêu cá nhân, xét đây là tiền bị cáo thu lợi bất chính nên buộc bị cáo truy nộp sung quỹ Nhà nước

[6] Về vật chứng: Đối với 0,179 gam Hêroin đã thu giữ của bị cáo thì cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo, đây là tiền do mua hộ ma túy mà có nên tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh cũ đã thu giữ, đây là tài sản cá nhân nên trả lại bị cáo.

[7] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 - BLTTHS 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 31, 333 - BLTTHS 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Nguyễn Gia L (Nguyễn Ngọc H) phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 - BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt: Nguyễn Gia L (Nguyễn Ngọc H) 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2024.

Về biện pháp tư pháp: áp dụng các Điều 46, 47 - BLHS 2015: Buộc bị cáo truy nộp số tiền 100.000 đồng sung quỹ Nhà nước

Về vật chứng: áp dụng Điều 106 - BLTTHS 2015 (đã chuyển Cơ quan Thi hành án dân sự quận H tại Biên bản giao nhận vật chứng kèm Phiếu nhập kho số NK2025-0040 ngày 29/11/2024)

- Tịch thu tiêu hủy 0,179 gam Hêroin đã thu giữ của bị cáo (cơ quan giám định đã trích 0,024 gam; còn lại là 0,155 gam)

- Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Redmi màu xanh đã qua sử dụng, imei1 967510062944004, imei2 867510062944012

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng đã thu giữ của bị cáo (đã chuyển Cơ quan Thi hành án dân sự quận H tại Giấy nộp tiền ngày 22/11/2024 - Ngân hàng TMCP C, Chi nhánh H)

Về án phí: áp dụng Điều 136 - BLTTHS 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Về quyền kháng cáo: áp dụng các Điều 331, 333 - BLTTHS 2015:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Chị Trần Thị T có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Về việc thi hành án: áp dụng Điều 26 - Luật Thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định của tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ