vanban.org

Bản án 324/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/11/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Võ Tiến D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Võ Tiến D 08 (T1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2024. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Tiến D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 324/2024/HS-ST
Ngày: 26-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Ngọc Cảnh

2/ Bà Lê Thị Phương Hồ

- Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Ông Đồng Quang Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 272/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 283/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 282/2024/HSST-QĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Võ Tiến D, sinh năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện nay: Như trên; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn H và bà Võ Thị T (chết); có vợ tên Trần Thị S và có 04 con (lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2018);

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 10/5/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 04 (bốn) năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo Bản án số 70/2008/HSST. Ngày 05/11/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tổng hợp với hình phạt của Bản án số 70/2008/HSST là 11 năm tù theo Bản án số 179/2008/HSST, bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 29/01/2016.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2024. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 00 ngày 07/5/2024, Võ Tiến D đi xe buýt từ nhà tại số B Đường số I, ấp G, xã T, huyện C đến khu vực gần bến xe A thuộc huyện H gặp một người thanh niên tên H1 (không rõ lai lịch) hỏi mua 3.800.000 đồng ma túy đá thì người này đồng ý. D ngồi đợi, H1 đi được khoảng 05 phút sau thì quay lại đưa cho D 03 gói nylon chứa ma túy đá. D cất giấu 03 gói ma túy vào túi quần phía trước, bên phải đang mặc rồi đi xe buýt về nhà. Về đến nhà, D lấy 01 phần gói nylon chứa ma túy chiết vào 13 đoạn ống nhựa rồi cất giấu vào hộp nhựa, phần ma túy còn lại trong gói nylon và 02 gói nylon chứa ma túy D cất giấu vào bao thuốc lá hiệu Jet nhằm mục đích sử dụng và bán lại cho người khác. Sau đó, D đã sử dụng hết 02 đoạn ống nhựa chứa ma túy đá.

Đến khoảng 12 giờ 00 ngày 10/5/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện C, huyện C tiến hành kiểm tra hành chính nhà số B Đường số I, ấp G, xã T, huyện C do Võ Tiến D làm chủ hộ. Qua kiểm tra, phát hiện trên nền nhà cạnh vị trí D đang ngồi có 01 hộp nhựa bên trong có 11 đoạn ống nhựa chứa tinh thể, 01 bao thuốc lá hiệu Jet bên trong có 03 gói nylon chứa tinh thể, 01 cân điện tử, 01 cái kéo, 05 đoạn ống nhựa không chứa gì và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. D khai nhận số ma túy trên là D mua của người thanh niên tên H1 (không rõ lai lịch) với giá 3.800.000 đồng ở khu vực gần bến xe A thuộc huyện H về nhằm mục đích để sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời. Công an xã T tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Võ Tiến D.

Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Võ Tiến D tại ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh không thu giữ được gì.

Kết quả xét nghiệm ma túy: D dương tính với ma túy tổng hợp, D khai nghiện lại ma túy từ tháng 04/2024.

Theo Kết luận giám định số 5794/KL-KTHS ngày 17/5/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận (BL 35):

- Tinh thể được ký hiệu mẫu m1 cần giám định (Tinh thể trong 11 đoạn ống nhựa) là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,4738g (một phẩy bốn bảy ba tám gam), loại Methamphetamine.

- Tinh thể được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (Tinh thể trong 03 gói nylon) là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 5,4597g (năm phẩy bốn năm chín bảy gam), loại Methamphetamine.

Ngoài ra D khai vào khoảng tháng 4/2024, D có mua ma túy của người thanh niên tên H1 (không rõ lai lịch) với giá 1.800.000 đồng để sử dụng và có chiết bán lại để kiếm lời. D đã bán cho người thanh niên tên K (không rõ lai lịch) với giá 200.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 257/CT-VKS.CC ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Võ Tiến D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

* Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hiện quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Võ Tiến D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251 và điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 09 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 gói mang số vụ 1790/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ Điều tra và Giám định viên; 01 bộ dụng cụ sử dụng sử dụng ma túy; 05 đoạn ống nhựa không chứa gì; 01 hộp nhựa; 01 bao thuốc lá hiệu Jet; 01 cái kéo; 01 cân điện tử.

+ Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Oppo

+ Truy thu số tiền 200.000 đồng thu lợi bất chính của bị cáo Võ Tiến D nộp ngân sách nhà nước.

* Bị cáo không có lời bào chữa, không có ý kiến tranh luận với phần luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi.

* Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải, kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được về chăm sóc ba đã già yếu và con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 12 giờ 00 phút ngày 10/5/2024 tại số nhà B Đường số I, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo bị bắt quả tang đang tàng trữ 11 ống đoạn ống nhựa và 03 gói nylon chứa ma túy có tổng khối lượng 6,9335 gam loại Methamphetamine (Theo Kết luận giám định số 5794/KL-KTHS ngày 17/5/2024) nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời.

Với hành vi nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất gây nghiện mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là mầm mống phát sinh các tội phạm, tệ nạn khác trong xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi vi phạm của mình, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 nên cần áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần phạm tội. Ngày 10/5/2008, bị cáo bị xử phạt 04 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo Bản án số 70/2008/HSST của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn. Đến ngày 05/11/2008, bị cáo bị xử phạt 7 năm tù tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tổng hợp với hình phạt của Bản án số 70/2008/HSST là 11 năm tù theo Bản án số 179/2008/HSST của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi. Nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội mua bán trái phép chất ma túy.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 gói mang số vụ 1790/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ Điều tra và Giám định viên: Xét thấy đây là vật cấm lưu hành nên cần tiêu hủy.

- Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng sử dụng ma túy, 05 đoạn ống nhựa không chứa gì, 01 hộp nhựa, 01 bao thuốc lá hiệu Jet, 01 cái kéo, 01 cân điện tử: Xét thấy đây là các đồ vật bị cáo dùng để phục vụ cho hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo có số Imei: 862562050289939, xét thấy đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không dùng vào mục đích phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với số tiền 200.000 đồng bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán trái phép chất ma túy cho đối tượng K, bị cáo tự nguyện nộp lại nên Hội đồng xét xử xét thấy cần truy thu số tiền trên nộp ngân sách nhà nước.

Đối với người thanh niên tên H1 (không rõ lai lịch) đã bán ma túy cho bị cáo và người thanh niên tên K (không rõ lai lịch) đã mua ma túy của bị cáo, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát không ý kiến, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên không xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Tiến D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Võ Tiến D 08 (T1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2024.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 1790/24 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Cán bộ Điều tra; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 cân điện tử; 01 hộp nhựa; 01 bao thuốc lá hiệu Jet; 05 đoạn ống nhựa không chứa gì; 01 cái kéo.

- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động có số IMEI: 862562050289939.

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 190/PNK ngày 10/7/2024, bút lục 38)

- Truy thu số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Võ Tiến D 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) nộp ngân sách nhà nước.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Võ Tiến D phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ