- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Kim C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 324/2022/HS-ST Ngày: 28 - 10- 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lưu Văn Có
2. Bà Võ Thị Bời
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đã mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 357/2022/HSST ngày 10 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 290/2022/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 10 năm 2022 đối với:
Bị cáo Lê Kim C, sinh năm 1973; nơi cư trú: Tổ 7, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C (chết) và bà Võ Thị Đ (chết); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục số 3949/QĐ-UB ngày 15/11/1999 của UBND tỉnh Khánh Hòa đưa Lê Kim C chấp hành tại Cơ sở giáo dục A1 đóng tại xã Hòa Phú, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Bản án sơ thẩm số 22/2016/HSST ngày 23/03/2016 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa tuyên xử Lê Kim C 01 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt là 01 năm 09 tháng tù. Chấp hành án tại Trại giam A2 xong vào ngày 27/04/2017; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/06/2022 ; có mặt.
- Người làm chứng: Ông Ngô Cao Bảo T; trú tại: Đường X, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 27/06/2022, trong khi tuần tra tại khu vực tổ 20, Trường P, phường V, thành phố N, tổ công tác của Đội điều tra tội phạm về ma túy
- Công an thành phố Nha Trang phối hợp cùng Công an phường V phát hiện Lê Kim C có biểu hiện nghi vấn về ma túy. Kiểm tra hành chính, C tự giao nộp cho tổ công tác 03 đoạn ống hút nhựa (02 màu xanh, 01 màu trắng) được hàn kín, kích thước (1x1,5)cm bên trong không rõ chứ gì (ký hiệu A). C khai bên trong 03 đoạn ống hút nhựa là ma túy “Heroine” mà C mới mua của một phụ nữ (không rõ lai lịch) trên dốc Lầu 7 với giá 300.000 đồng vào khoảng 06 giờ 15 phút ngày 27/06/2022 để sử dụng cho bản thân.
Tại kết luận giám định số 261/GĐ-GT/2022/KL-KTHS ngày 01/07/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: Chất bột nén màu trắng trong mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1062g, là Heroine. Mẫu ký hiệu A đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại bản Cáo trạng số 295/2022/CT-VKS-NT ngày 05 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Lê Kim C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên nội dung đã truy tố đối với bị cáo Lê Kim C, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Lê Kim C mức 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Kim Cương thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ. Do đó, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên và của các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định.
Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Lê Kim C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lúc khoảng 06 giờ 30 phút ngày 27/6/2022; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu, biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định, cùng ngày 27/6/2022, Kết luận giám định số 261/GĐ-GT/2022/KL-KTHS ngày 01/07/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên toà, có đủ cơ sở kết luận vào lúc khoảng 06 giờ 30 phút ngày 27/06/2022, tại khu vực tổ 20, Trường P, phường V, thành phố N, Lê Kim C đang tàng trữ trái phép 0,1062g ma túy Heroine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, thì bị phát hiện bắt quả tang. Khối lượng chất ma túy bị cáo tàng trữ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) ... Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Do đó, Cáo trạng số 295/2022/CT-VKS-NT ngày 05 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo nhận thức rõ chất ma túy bị pháp luật cấm nhưng vẫn mua để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo còn là nguyên nhân phát sinh một số loại tội phạm khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Về nhân thân: Năm 2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xử phạt tù về các tội “Cướp giật tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”. Trước đó, năm 1999 bị cáo bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa đưa vào cơ sở giáo dục với thời hạn là 02 năm. Sau khi chấp hành quyết định xử lý hành chính và bản án của tòa án, bị cáo không lo tu chí làm người lương thiện mà lại sa vào con đường nghiện ngập và tiếp tục phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, cũng như phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Tuy nhiên, xét thấy sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn, khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo sớm về với gia đình và trở thành người có ích cho xã hội.
Kiến nghị Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp tục điều tra, đối tượng là người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo (hiện chưa xác định được lai lịch) để xử lý theo đúng quy định.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Kim C 02 (hai) tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/06/2022.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thành phố Nha Trang; - Công an thành phố Nha Trang; - Phòng hồ sơ – Công an tỉnh Khánh Hòa; - Bị cáo; - Chi cục THADS. TP. Nha Trang; - Lưu án văn, VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Thanh Tùng |