vanban.org

Bản án 323/2026/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/02/2026 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/02/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” giữa nguyên đơn ông …

Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Án phí dân sự phúc thẩm: Hlại cho bà Trần Công T10 A số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003311 ngày 31/10/2024 của Chi cục thi hành án dân s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản — án dân sự — "Huỳnh Thanh C - Ngô Thị H"
  • Tòa quyết gì? Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” giữa nguyên đơn ông …
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 323/2026/DS-PT
Ngày: 25 - 02 - 2026
V/v Tranh chấp đòi lại tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tâm

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh

Bà Bùi Thị Thương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Vy - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Lê Thị Vẹn - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 25 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở A) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1564/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 12 năm 2025 về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 51/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực Y, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 86/2026/QĐ-PT ngày 06/01/2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 1044/2026/QĐ-PT ngày 20/01/2026, Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 1328/2026/TB-TA ngày 26/01/2026, Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 1564/2026/QĐ-PT ngày 04/02/2026, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 1936/2026/QĐ-PT ngày 04/02/2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 2048/2026/QĐ-PT ngày 06/02/2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Thanh C, sinh năm 1970; Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông C: Bà Trịnh Thị H, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số B L, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).

2. Bị đơn: Bà Ngô Thị H1, sinh năm 1974 và ông Trần Đình H2, sinh năm 1962; Địa chỉ: Ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H1, ông H2: Luật sư Vũ Anh T và luật sư Bùi Thị H3 – Công ty L4 và cộng sự; địa chỉ: 6 L, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ông T có mặt, bà H3 vắng mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Lê Thị Kim L, sinh năm 1974; Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).

- Ông Lê Hùng D, sinh năm 1970; Địa chỉ: Ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông D: Ông Huỳnh Thanh C, sinh năm 1970; Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).

4. Người làm chứng:

- Ông Trần Ngọc K, sinh năm 1959; Địa chỉ: Tổ F, ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).

- Ông Trần Hữu K1, sinh năm 1958 Địa chỉ: Tổ B, ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).

- Bà Bùi Thị Hoàng O, sinh năm 1980 Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).

- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ F, ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).

- Ông Lã Thế T1, sinh năm 1953; Địa chỉ: Tổ G, ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).

- Bà Nguyễn Thị Thu H4, sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).

- Ông Nguyễn Đình T2, sinh năm 1966; Địa chỉ: Tổ D, ấp P, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).

- Ông Nguyễn Quốc C1, sinh năm 1981; Địa chỉ: B, xã Q, tỉnh Lâm Đồng. (Có mặt).

5. Người kháng cáo: Ông Trần Đình H2 và bà Ngô Thị H1 là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Huỳnh Thanh C trình bày:

Vợ chồng ông Huỳnh Thanh C, bà Lê Thị Kim L có gửi tiêu cho vợ chồng Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 làm nghề thu mua nông sản 02 lần tại vựa tiêu Hoa Hành tại ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã H, Thành phố Hồ Chí Minh), như sau:

Lần 1: Ngày 10/5/2021, ông Huỳnh Thanh C có mua 14 tấn (14.000 kg) tiêu của vợ chồng bà H1, ông H2 với giá 70.000 đồng/kg, tổng cộng là 980.000.000 đồng, ông C, bà L đã giao đủ tiền cho bà H1, ông H2. Sau khi mua tiêu của bà H1 xong, ông C, bà L có gửi lại toàn bộ số tiêu này tại vựa tiêu của bà H1, ông H2 và bà H1 có ghi giấy nhận tiêu cho ông C, bà L nhưng bà H1 lại làm giấy “Giấy bán tiêu”, vợ chồng ông C, bà L đang giữ giấy này.

Theo phong tục mua bán tiêu tại địa phương cũng như những người làm chứng là những người nông dân trồng tiêu và gửi tiêu tại các vựa tiêu tại địa phương như ông C, bà L thì khi mua tiêu để gửi lại vựa của bà H1, ông H2 thì bà H1, ông H2 phải viết giấy giao lại cho ông C, bà L giữ, còn nếu ông C, bà L mua tiêu của bà H1, ông H2 chở về gọi là mua đứt thì ông H2, bà H1 không cần viết giấy, các nông dân khác và các vựa tiêu tại địa phương đều thực hiện như vậy.

Theo thỏa thuận giữa hai bên thì tiêu của ông C, bà L gửi tại vựa tiêu của bà H1, ông H2 thì khi bà H1, ông H2 bán tiêu của ông C, bà L cho người khác thì phải thông qua ý kiến của ông C, bà L có đồng ý bán tiêu và giá tiêu hay không; sau khi bán tiêu của ông C, bà L và giao tiền xong thì bà H1, ông H2 mới xé giấy gửi tiêu này đi. Tuy nhiên sau khi bà H1, ông H2 bán tiêu của ông C, bà L xong lại không báo cho ông C, bà L biết và không giao lại tiền bán tiêu cho ông C, bà L. Do vậy giấy bà H1 viết cho ông C, bà L khi gửi 14 tấn tiêu tại vựa của bà H1, ông H2 cũng chưa bị xé bỏ, hiện giấy này vợ chồng ông C, bà L vẫn đang giữ.

Lần 2: Ngày 20/4/2022, khi ông C, bà L thu hoạch tiêu thì ông C gọi bà H1 vào tận rẫy để cân tiêu và ông C, bà L gửi cho bà H1, ông H2 là 6,4 tấn (6.400 kg) tiêu, bà H1 có làm giấy tay cho ông C, bà L.

Trong quá trình gửi tiêu, vợ chồng ông C đã bán 1,1 tấn (1.100kg) tiêu, số tiêu ông C, bà L còn lại gửi cho vợ chồng bà H1, ông H2 là 19,3 tấn (19.300kg), theo giá tiêu ước tính hiện tại khoảng 160.000 đồng/kg thì 19.300kg tiêu có giá trị khoảng 3.088.000.000 đồng (ba tỷ không trăm tám mươi tám triệu đồng).

Khi ông C, bà L có nhu cầu lấy tiêu về để bán thì vợ chồng bà H1 nói rằng vựa tiêu đã không còn hoạt động, vợ chồng bà H1 đã bể nợ và nói rằng không có tiêu để trả và hứa hẹn với ông C, bà L sẽ trả sau. Từ đó đến nay ông C, bà L đã nhiều lần liên hệ vợ chồng bà H1 để yêu cầu trả tiêu nhưng không có kết quả.

Trong các tin nhắn giữa bà L và bà H1 và các đoạn ghi âm giữa bà H1, ông H2 và vợ chồng ông C mà ông C đã giao nộp cho Toà án thì khi ông C, bà L đề cập, trao đổi về 19,3 tấn tiêu bà H1, ông H2 còn nợ thì bà H1, ông H2 đều không có bất cứ phản ứng hay không đồng ý về số lượng 19,3 tấn tiêu này. Tuy nhiên trong các buổi làm việc tại Toà án thì bà H1, ông H2 lại thay đổi ý kiến và cho rằng chỉ còn nợ ông C, bà L 5,3 tấn tiêu. Và trong các đoạn tin nhắn, ghi âm trên bà H1 cũng đề cập đến việc cấn trừ 20m đất tại xã B cho ông C, bà L nhưng tại Toà án thì H1 khai rằng chỉ trao đổi cấn trừ 10m đất là hoàn toàn không đúng sự thật.

Trong số 19,3 tấn tiêu có 14 tấn tiêu của ông Lê Hùng D là anh trai bà L nhờ vợ chồng ông C, bà L đứng tên để mua và gửi cho bà H1, ông H2 dùm vì ông D sinh sống tại nước Mỹ, nguồn tiền mua tiêu là do ông C, bà L có bán cho ông D 01 miếng đất nhưng chưa sang tên, sau đó ông D nhờ ông C, bà L bán miếng đất này cho ông Nguyễn Quốc C1 lấy tiền để mua tiêu cho ông D và khi mua bán tiêu, gửi tiêu cho bà H1 thì bà H1 và ông D có nói chuyện với nhau qua điện thoại trao đổi và thống nhất với nhau. Do ông C, bà L là người trực tiếp giao dịch mua bán và gửi tiêu cho bà H1, ông H2 nên trách nhiệm đối với số tiêu gửi cho bà H1, ông H2 là của ông C, bà L, sau này giữa ông C, bà L và ông D sẽ tự giải quyết với nhau đối với số tiền ông D gửi ông C, bà L để giao dịch mua bán và gửi tiêu.

Nay, ông C khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 trả lại cho ông C, bà L 19.300kg tiêu theo giá thị trường ngày 12/9/2025, trong đó 14.000kg tiêu giá 153.000 đồng/kg, 5.300kg tiêu giá 167.000 đồng/kg. Tổng số tiền là 3.027.100.000đ (ba tỷ không trăm hai mươi bảy triệu một trăm nghìn đồng).

- Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Kim L trình bày: Bà L đồng ý với ý kiến và yêu cầu của ông C, không bổ sung thêm ý kiến, yêu cầu nào khác.

- Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn bà Ngô Thị H1 và ông Trần Đình H2 trình bày:

Vào ngày 10/5/2021, bà H1 có thỏa thuận bán cho vợ chồng bà L, ông C 14 tấn (14.000 kg) tiêu, giá tiêu là 70.000 đồng/kg và bà H1, ông H2 có làm giấy bán tiêu cho ông C, bà L, tuy nhiên ông C, bà L không giao tiền mua tiêu nên việc mua bán tiêu ngày 10/5/2021 giữa hai bên không thành, nhưng bà H1, ông H2 cũng không hủy giấy này nên giấy bán tiêu ngày 10/5/2021 của vợ chồng bà H1 do ông C giao nộp cho Tòa án không còn giá trị.

Bà H1 chỉ thừa nhận có nhận tiêu do ông C gửi vào ngày 20/4/2022 là 6,4 tấn (6.400 kg), sau đó ông C bán đi 1,1 tấn (1.100kg), còn lại 5,3 tấn (5.300kg) tiêu thì ông C vẫn tiếp tục gửi cho vợ chồng bà H1. Khi gửi tiêu hai bên không thỏa thuận về giá cả, thời gian gửi và cũng không thỏa thuận khi vợ chồng bà H1 bán tiêu phải thông báo cho ông C biết. Sau đó bà H1, ông H2 đã bán 5.300kg tiêu này.

Bà H1 xác định đối với khách hàng khi bán tiêu cho bà H1, ông H2 thì bà H1 làm Giấy bán tiêu có thông tin về số tiêu bán, giá tiêu, tổng số tiền; đối với khách hàng mua và gửi tiêu lại ngay tại vựa tiêu cho bà H1, ông H2 (thực tế hai bên không giao tiêu cho nhau mà chỉ mua và gửi tiêu trên giấy tờ) thì bà H1 sẽ làm Giấy nhận/gửi tiêu có thông tin về số tiêu gửi, tiêu đầu giá mà không có giá tiêu, số tiền bán tiêu.

Tại các đoạn tin nhắn zalo giữa bà H1 nick là “Hoacđoan” và bà L và các đoạn ghi âm do nguyên đơn nộp, bà H1, ông H2 không có ý kiến phản đối khi ông C, bà L yêu cầu trả 19,3 tấn tiêu là vì bà H1, ông H2 nghĩ phải xem lại sổ sách giấy tờ thì mới giải quyết bằng hình thức cấn trừ đất được và bà H1 xác nhận chỉ còn nợ ông C, bà L 5,3 tấn tiêu mà không phải 19,3 tấn như ông C, bà L nói trong tin nhắn, ghi âm.

Bà H1 hoàn toàn không trao đổi với ông Lê Hùng D về việc mua bán, gửi giữ, thế chấp sổ đỏ cho ông D để đảm bảo cho số tiêu ông D gửi cho bà H1, ông H2. Sở dĩ trong các đoạn ghi âm, tin nhắn giữa bà H1, ông H2 và vợ chồng ông C, bà L có nhắc đến ông D là chỉ liên quan đến 5,3 tấn tiêu mà bà H1 thừa nhận hiện nay còn nợ ông C, bà L, hoàn toàn không có việc bà H1, ông H2 còn nợ ông D 14 tấn tiêu. Việc bà H1, ông H2 muốn cấn trừ cho ông C, bà L 10m đất tại xã B, huyện X cũng là để cấn trừ 5,3 tấn tiêu còn nợ, giá 10 mét đất trên tại thời điểm 2 bên trao đổi (tháng 6/2024) là 2.000.000.000 đồng và ông D có trao đổi với bà L là hoàn trả lại cho bà H1 1.000.000.000 đồng vì 5,3 tấn tiêu chỉ có giá trị khoảng 1.000.0000.000 đồng nhưng ông C, bà L không đồng ý. 10 mét đất này hiện nay bà H1 đã cấn trừ nợ cho người khác.

Trong các đoạn tin nhắn, ghi âm của nguyên đơn nộp, vợ chồng bà L, ông C, bà H1 có đề cập đến việc cấn trừ 20m đất tại xã B nhưng vợ chồng bà H1 chỉ đồng ý cấn trừ 10m đất, việc cấn đất này hai bên không thành.

Nay bà H1, ông H2 chỉ đồng ý trả lại cho ông C, bà L giá trị 5.300kg tiêu với giá theo thời điểm thị trường hiện nay là 167.000 đồng/kg, không đồng ý theo yêu cầu ông C, bà L về việc yêu cầu bà H1, ông H2 phải trả lại giá trị 14.000kg tiêu. Đối với tiêu hiện đang tranh chấp bà H1, ông H2 đồng ý giá thị trường là 153.000 đồng/kg.

- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị H5, ông Trần Đình H2 là bà Nguyễn Thị H6 trình bày thống nhất nội dung bà H5 và ông H2 trình bày.

-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Hùng D và người đại diện hợp pháp của ông D trình bày: Ông D là anh ruột của bà Lê Thị Kim L. Do ông D sinh sống tại nước Mỹ nên có nhờ ông C, bà L đứng tên dùm một miếng đất và nhờ ông C, bà L bán đất này cho ông Nguyễn Quốc C1 với giá 2.000.000.000 đồng, ông C1 đặt cọc số tiền 980.000.000 đồng, sau đó ông D nhờ ông C, bà L mua và gửi tiêu cho ông Trần Đình H2, bà Ngô Thị H1 - chủ vựa tiêu Hoa Hành tại xã H, huyện X. Khi mua bán và gửi tiêu, giữa ông D và bà H1 có trao đổi với nhau qua điện thoại và thống nhất việc mua bán, gửi tiêu cho nhau. Cụ thể: Vào ngày 10/5/2021, ông C có thay mặt ông D thỏa thuận mua 14 tấn (14.000 kg) tiêu của vợ chồng bà H1, ông H2 với giá 70.000 đồng/kg, tổng cộng là 980.000.000 đồng, ông C đã giao đủ tiền cho bà H1, ông H2. Bà H1, ông H2 có hứa hẹn thế chấp cho ông D giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đảm bảo cho số tiêu ông D đã gửi nhưng vẫn không thực hiện. Sau khi mua tiêu của bà H1 xong, ông C đã gửi lại ngay toàn bộ số tiêu này tại vựa tiêu của bà H1, ông H2 (hai bên không giao tiêu cho nhau mà chỉ bán và gửi tiêu trên giấy tờ) và bà H1 có ghi giấy nhận tiêu cho ông C nhưng bà H1 lại làm giấy “Giấy bán tiêu”, hiện nay vợ chồng ông C đang giữ giấy này. Sau khi gửi tiêu cho bà H1 thì ông C, bà L đều thông báo cho ông D biết qua điện thoại. Do ông C, bà L giao dịch trực tiếp, ký giấy tờ mua bán, gửi giữ tiêu với bà H1, ông H2, nên ông D đề nghị Toà án giải quyết buộc bà H1, ông H2 phải thanh toán tiền cho ông C, bà L. Sau này giữa ông D và ông C, bà L sẽ tự giải quyết với nhau đối với số tiền ông D gửi ông C, bà L giao dịch mua bán và gửi tiêu với bà H1, ông H2. Ông D không yêu cầu bà H1, ông H2 phải trả tiền cho ông D vì ông D không đứng trên giấy tờ giao dịch với bà H1, ông H2.

- Người làm chứng ông Nguyễn Quốc C1 trình bày: Đầu tháng 05/2021, bà L và ông C có bán cho ông C1 một mảnh đất để lấy tiền mua tiêu trữ. Ông C1 mua lại mảnh đất của ông C và bà L với số tiền là hai tỷ đồng (2.000.000.000đ). Ngày 09/05/2021, ông C1 có bán cho ông T3 (tiệm V11) một miếng đất và nhận cọc số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng). Ông C1 ra ngân hàng Q chi nhánh B18 rút tiền trong tài khoản và mượn thêm đứa em cho đủ số tiền 1.000.000.000đ (một tỷ đồng). Chiều ngày 10/5/2021, ông C1 đem tiền đến tại nhà ông C và bà L để cọc đất 1.000.000.000đ (một tỷ đồng) thì ông C1 thấy ông H2 và bà H1 chờ sẵn tại nhà ông C và bà L. Khi ông C1 giao tiền xong cho bà L thì bà L có rút lại 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Số tiền còn lại bà L đã giao lại trực tiếp cho vợ chồng ông H2 và bà H1 ngồi đếm để ông C, bà L mua tiêu của ông H2, bà H1 trữ gửi lại tại kho của ông H2, bà H1. Sau khi hai bên đã đếm tiền đủ 980.000.000đ (chín trăm tám mươi triệu đồng) và thỏa thuận xong thì vợ chồng ông H2, bà H1 có viết giấy tay bán tiêu và giao lại tờ giấy cho ông C, bà L giữ trước sự chứng kiến của ông C1. Còn về giấy đặt cọc tiền đất có 01 bản chính nên bà L có chụp hình lại máy điện thoại lưu giữ. Còn về bản chính ông C1 đã làm mất không còn giữ lại nên chỉ nộp cho tòa bản phô tô giấy mua bán đất giữa ông C1 và vợ chồng ông C bà L ngày 10/5/2021. Hiện nay mảnh đất đó ông C1 đang đứng tên. Ông C1 cam đoan những lời khai trên đúng sự thật và chịu trách nhiệm về lời khai của mình.

- Người làm chứng ông Trần Hữu K1 trình bày: Ông K1 là người cùng xã với ông C, bà L và ông H2, bà H1, nắm được phong tục mua bán, gửi tiêu tại địa phương, ngoài ra không có quan hệ nào với hai bên. Gia đình ông K1 là nông dân trồng tiêu, mỗi mùa thu hoạch tiêu xong là bán tiêu hoặc gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu tại địa phương. Hiện nay tại xã H, huyện X có hơn chục vựa tiêu trong đó có vựa tiêu của bà H1, ông H2.

Ông K1 là người dân sinh sống tại xã H, huyện X hơn 38 năm và nắm rất rõ về phong tục, mua bán tiêu tại địa phương, cụ thể:

Về phong tục mua bán tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu xong muốn bán tiêu cho người mua tiêu hoặc các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì hai bên sẽ trao đổi mua bán như cân tiêu, tính toán giá tiêu tại thời điểm bán (theo giá thị trường), sau đó người mua tiêu nhận đủ tiêu của người bán tiêu và người bán tiêu sẽ nhận đầy đủ tiền từ người mua tiêu, chủ vựa tiêu và hai bên không cần làm bất cứ giấy tờ nào với nhau, vì việc mua bán tiêu đã hoàn tất.

Về phong tục gửi tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu xong muốn gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì hai bên sẽ tiến hành cân tiêu, tính giá (đầu giá), sau đó chủ vựa tiêu sẽ ghi 01 giấy bán tiêu/gửi tiêu/nhận tiêu cho người gửi tiêu, giấy này do người gửi tiêu giữ, còn chủ vựa tiêu ghi vào sổ sách của họ. Trong quá trình gửi tiêu, nếu người gửi tiêu muốn bán tiêu thì họ đến gặp chủ vựa tiêu để bán và nhận tiền.

Ông K1 được Toà án cho tham khảo bản chính “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 giữa bà Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 và ông C, bà L. Theo ông K1, “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 của bà Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 và ông C, bà L có nội dung là ông C, bà L mua của bà H1, ông H2 14 tấn tiêu và đã giao đủ tiền cho bà H1, ông H2 và như ông K1 đã trình bày trên về phong tục mua bán tiêu tại địa phương thì việc mua bán tiêu giữa hai bên đã thực hiện xong thì hai bên không làm bất cứ giấy tờ mua bán gì với nhau. Do vậy “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 do bà H1, ông H2 viết cho ông C, bà L là chứng cứ cho thấy ông C, bà L đã gửi toàn bộ 14 tấn tiêu này lại cho ông H2, bà H1 thì ông H2, bà H1 mới viết giấy này cho ông C, bà L giữ và do trình độ thiếu hiểu biết của người nông dân như ông C, bà L thì chủ vựa tiêu như bà H1, ông H2 viết giấy gì thì nhận giấy đó. Và theo “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 thì ông C, bà L chưa nhận tiền bán tiêu do ông C, bà L gửi cho bà H1, ông H2. Ông K1 không biết gì về việc mua bán, gửi tiêu giữa ông C, bà L và ông H2, bà H1.

- Người làm chứng ông Trần Ngọc K trình bày: Ông K là người cùng xã với ông C, bà L và ông H2, bà H1, tôi cũng là người bán và gửi tiêu cho bà H1, ông H2. Ông K nắm được phong tục mua bán, gửi tiêu tại địa phương, ngoài ra không có quan hệ nào với hai bên. Gia đình ông K là nông dân trồng tiêu, mỗi mùa thu hoạch tiêu xong là bán tiêu hoặc gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu tại địa phương. Ông K sinh sống tại xã H, huyện X hơn 25 năm nên nắm rất rõ về phong tục, mua bán tiêu tại địa phương, cụ thể:

Về phong tục mua bán tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu xong muốn bán tiêu cho người mua tiêu hoặc các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì hai bên sẽ trao đổi mua bán như cân tiêu, tính toán giá tiêu tại thời điểm bán (theo giá thị trường), sau đó người mua tiêu nhận đủ tiêu của người bán tiêu và người bán tiêu sẽ nhận đầy đủ tiền từ người mua tiêu, chủ vựa tiêu và hai bên không cần làm bất cứ giấy tờ nào với nhau, vì việc mua bán tiêu đã hoàn tất.

Về phong tục gửi tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu xong muốn gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì phải gọi chủ vựa tiêu đến xem và định “dem” (chất lượng tiêu) hai bên thỏa thuận với nhau nhất trí và cân tiêu, sau khi cân tiêu xong chủ vựa tiêu viết giấy bán tiêu/nhận tiêu/gửi tiêu cho người gửi tiêu và chủ vựa tiêu tự ghi vào sổ của họ. Trong quá trình gửi tiêu, nếu người gửi tiêu muốn bán tiêu thì họ đến gặp chủ vựa tiêu để bán và nhận tiền; các chủ vựa tiêu khi nhận gửi tiêu không được tự bán tiêu của người gửi mà phải được sự đồng ý của người gửi tiêu mới được bán tiêu cho người khác. Trong quá trình gửi tiêu, nếu người gửi tiêu muốn bán tiêu thì họ đến gặp chủ vựa tiêu để bán và nhận tiền, sau đó chủ vựa tiêu sẽ ghi phía dưới giấy bán tiêu/gửi tiêu/nhận tiêu là đã bán bao nhiêu tiêu, nếu bán hết tiêu đã gừi thì sẽ ghi chữ “R” hoặc xé bỏ luôn giấy bán tiêu/gửi tiêu/nhận tiêu.

Ông K được Toà án cho tham khảo bản chính “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 giữa bà Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 và ông C, bà L. Theo ông K “Giấy bán tiêu” trên có nội dung là ông C, bà L mua của bà H1, ông H2 14 tấn tiêu và đã giao đủ tiền cho bà H1, ông H2 và như ông K đã trình bày trên về phong tục mua bán tiêu tại địa phương thì việc mua bán tiêu giữa hai bên đã thực hiện xong thì hai bên không làm bất cứ giấy tờ mua bán gì với nhau. Do vậy “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 do bà H1, ông H2 viết cho ông C, bà L là chứng cứ cho thấy ông C, bà L đã gửi toàn bộ 14 tấn tiêu này lại cho ông H2, bà H1 thì ông H2, bà H1 mới viết giấy này cho ông C, bà L giữ và do trình độ thiếu hiểu biết của người nông dân như ông C, bà L thì chủ vựa tiêu như bà H1, ông H2 viết giấy gì thì nhận giấy đó. Theo “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 thì ông C, bà L chưa nhận tiền bán tiêu do ông C, bà L gửi cho bà H1, ông H2 nên chưa bị xe hay gạch bỏ. Và trong trường hợp này theo ông K2 biết bà H1, ông H2 đã tự ý bán hết tiêu của người gửi trong đó có ông C, bà L khi chưa được sự đồng ý của ông C, bà L nên không còn tiền và tiêu để trả cho ông C, bà L. Về việc mua bán gửi tiêu giữa ông C, bà L và ông H2, bà H1 thì ông K không biết.

- Người làm chứng bà Bùi Thị Hoàng O trình bày: Bà O là người cùng xã với ông C, bà L và ông H2, bà H1, nắm được phong tục mua bán, gửi tiêu tại địa phương, ngoài ra không có quan hệ nào với hai bên. Bà O là nông dân trồng tiêu, mỗi mùa thu hoạch tiêu xong là bán tiêu hoặc gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu tại địa phương.

Về phong tục mua bán tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu xong muốn bán tiêu cho người mua tiêu hoặc các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì hai bên sẽ trao đổi mua bán như cân tiêu, tính toán giá tiêu tại thời điểm bán, sau đó người mua tiêu nhận đủ tiêu của người bán tiêu và người bán tiêu sẽ nhận đầy đủ tiền từ người mua tiêu, chủ vựa tiêu và hai bên không cần làm bất cứ giấy tờ nào với nhau. Về phong tục gửi tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu xong muốn gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì hai bên sẽ tiến hành cân tiêu, tính giá (đầu giá), sau đó chủ vựa tiêu sẽ ghi 01 giấy bán tiêu/gửi tiêu/nhận tiêu cho người gửi tiêu, giấy này do người gửi tiêu giữ, còn chủ vựa tiêu ghi vào sổ sách của họ. Trong quá trình gửi tiêu, nếu người gửi tiêu muốn bán tiêu thì họ đến gặp chủ vựa tiêu để bán và nhận tiền, sau đó chủ vựa tiêu sẽ ghi phía dưới giấy bán tiêu/gửi tiêu/nhận tiêu là đã bán bao nhiêu tiêu, nếu bán hết tiêu đã gừi thì sẽ ghi chữ “R” hoặc xé bỏ luôn giấy bán tiêu/gửi tiêu/nhận tiêu.

Tòa án cho bà O tham khảo bản chính “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 giữa bà Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 và ông C, bà L. Theo bà O, “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 của bà Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 và ông C, bà L có nội dung là ông C, bà L mua của bà H1, ông H2 14 tấn tiêu và đã giao đủ tiền cho bà H1, ông H2 và như bà O đã trình bày trên về phong tục mua bán tiêu tại địa phương thì việc mua bán tiêu giữa hai bên đã thực hiện xong thì hai bên không làm bất cứ giấy tờ mua bán gì với nhau. Do vậy “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 do bà H1, ông H2 viết cho ông C, bà L là chứng cứ cho thấy ông C, bà L đã gửi toàn bộ 14 tấn tiêu này lại cho ông H2, bà H1 thì ông H2, bà H1 mới viết giấy này cho ông C, bà L và do trình độ thiếu hiểu biết của người nông dân như ông C, bà L thì chủ vựa tiêu như bà H1, ông H2 viết giấy gì thì nhận giấy đó, nay xảy ra tranh chấp mới biết. Và theo “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 thì ông C, bà L chưa nhận tiền bán tiêu do ông C, bà L gửi cho bà H1, ông H2. Bà không biết việc mua bán, gửi tiêu giữa ông C, bà L và ông H2, bà H1.

- Người làm chứng ông Lã Thế T1 trình bày: Ông T1 là người cùng xã với ông C, bà L và ông H2, bà H1, nắm được phong tục mua bán, gửi tiêu tại địa phương, ngoài ra không có quan hệ nào với hai bên. Gia đình ông T1 là nông dân trồng tiêu, mỗi mùa thu hoạch tiêu xong là bán tiêu cho các chủ vựa tiêu trong đó có vựa bà H1, ông H2 nhưng chưa bao giờ gửi tiêu cho bà H1, ông H2.

Về phong tục mua bán tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu xong muốn bán tiêu cho người mua tiêu hoặc các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì hai bên sẽ trao đổi mua bán như cân tiêu, tính toán giá tiêu tại thời điểm bán, sau đó người mua tiêu nhận đủ tiêu của người bán tiêu và người bán tiêu sẽ nhận đầy đủ tiền từ người mua tiêu, chủ vựa tiêu và hai bên mua bán xong thì không cần làm bất cứ giấy tờ nào với nhau. Chỉ trường hợp khi hai bên còn nợ tiền mua bán tiêu với nhau thì mới làm giấy mua bán tiêu cho nhau. Về phong tục gửi tiêu tại địa phương: Ông T1 chưa bao giờ gửi tiêu nên không nắm được.

Ông T1 tham khảo bản chính “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 giữa bà Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 và ông C, bà L nhưng không đánh giá được Giấy bán tiêu trên và không biết gì về việc mua bán, gửi tiêu giữa ông C, bà L và ông H2, bà H1.

- Người làm chứng bà Nguyễn Thị Thu H4 trình bày: Bà H4 là người cùng xã với ông C, bà L và ông H2, bà H1. Bà H4 là người mua bán, gửi tiêu khoảng 20 năm nay với bà H1, ông H2 và nắm được phong tục mua bán, gửi tiêu tại địa phương, ngoài ra không có quan hệ nào với hai bên. Gia đình bà H4 là nông dân trồng tiêu, mỗi mùa thu hoạch tiêu xong là bà H4 bán tiêu hoặc gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu trong đó có vựa bà H1, ông H2.

Về phong tục mua bán tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu xong muốn bán tiêu cho người mua tiêu hoặc các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì hai bên sẽ trao đổi mua bán như cân tiêu, tính toán giá tiêu tại thời điểm bán, sau đó người mua tiêu nhận đủ tiêu của người bán tiêu và người bán tiêu sẽ nhận đầy đủ tiền từ người mua tiêu, chủ vựa tiêu và hai bên mua bán xong thì không cần làm bất cứ giấy tờ nào với nhau. Chỉ trường hợp khi hai bên gửi tiêu cho nhau thì mới làm giấy “nhận tiêu” với nhau.

Về phong tục gửi tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu xong muốn gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì hai bên sẽ tiến hành cân tiêu, tính giá (đầu giá), sau đó chủ vựa tiêu sẽ ghi 01 giấy gửi tiêu/nhận tiêu cho người gửi tiêu, giấy này do người gửi tiêu giữ, còn chủ vựa tiêu ghi vào sổ sách của họ. Trong quá trình gửi tiêu, nếu người gửi tiêu muốn bán tiêu thì họ đến gặp chủ vựa tiêu để bán và nhận tiền, sau đó chủ vựa tiêu sẽ ghi phía dưới giấy gửi tiêu/nhận tiêu là đã bán bao nhiêu tiêu, nếu bán hết tiêu đã gừi thì sẽ ghi chữ “R” hoặc xé bỏ luôn giấy gửi tiêu/nhận tiêu.

Theo bà H4 thì “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 giữa bà Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 và ông C, bà L có nghĩa là bà H1, ông H2 đã bán cho ông C, bà L 14 tấn tiêu nhưng giao dịch có thành công không thì bà H4 không biết. Còn sau đó ông C, bà L có gửi 14 tấn tiêu này lại cho bà H1, ông H2 hay không thì bà H4 không biết. Bà H4 không biết gì về việc mua bán, gửi tiêu giữa ông C, bà L và ông H2, bà H1.

- Người làm chứng ông Nguyễn Đình T2 trình bày: Ông T2 là người cùng xã với ông C, bà L và ông H2, bà H1. Ông T2 là người gửi tiêu khoảng 20 năm nay với bà H1, ông H2 và nắm được phong tục mua bán, gửi tiêu tại địa phương, ngoài ra không có quan hệ nào với hai bên. Gia đình ông T2 là nông dân trồng tiêu, mỗi mùa thu hoạch tiêu xong là bán tiêu hoặc gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu trong đó có vựa bà H1, ông H2.

Về phong tục mua bán tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu xong muốn bán tiêu cho người mua tiêu hoặc các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì hai bên sẽ trao đổi mua bán như cân tiêu, tính toán giá tiêu tại thời điểm bán, sau đó người mua tiêu nhận đủ tiêu của người bán tiêu và người bán tiêu sẽ nhận đầy đủ tiền từ người mua tiêu, chủ vựa tiêu và hai bên mua bán xong thì không cần làm bất cứ giấy tờ nào với nhau.

Về phong tục gửi tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu xong muốn gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì hai bên sẽ tiến hành cân tiêu, tính kg tiêu, sau đó chủ vựa tiêu sẽ ghi vào sổ người gửi tiêu, còn chủ vựa tiêu ghi vào sổ sách của họ. Trong quá trình gửi tiêu, nếu người gửi tiêu muốn bán tiêu thì họ đến gặp chủ vựa tiêu để bán và nhận tiền, sau đó chủ vựa tiêu sẽ ghi phía dưới giấy gửi tiêu/nhận tiêu là đã bán bao nhiêu tiêu, nếu bán hết tiêu đã gừi thì sẽ ghi chữ “R” hoặc xé bỏ luôn giấy gửi tiêu/nhận tiêu.

Ông T2 không đánh giá được “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 giữa bà Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 và ông C, bà L. Ông T2 cũng không biết việc mua bán, gửi tiêu giữa ông C, bà L và ông H2, bà H1.

- Người làm chứng bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà N là người cùng xã với ông C, bà L và ông H2, bà H1. Bà N là người mua bán, gửi tiêu khoảng 20 năm nay với bà H1, ông H2 và nắm được phong tục mua bán, gửi tiêu tại địa phương, ngoài ra không có quan hệ nào với hai bên. Bà N là nông dân trồng tiêu, mỗi mùa thu hoạch tiêu xong là bán tiêu hoặc gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu trong đó có vựa bà H1, ông H2.

Về phong tục mua bán tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu xong muốn bán tiêu cho người mua tiêu hoặc các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì hai bên sẽ trao đổi mua bán như cân tiêu, tính toán giá tiêu tại thời điểm bán, sau đó người mua tiêu nhận đủ tiêu của người bán tiêu và người bán tiêu sẽ nhận đầy đủ tiền từ người mua tiêu, chủ vựa tiêu và hai bên mua bán xong thì không cần làm bất cứ giấy tờ nào với nhau. Chỉ trường hợp khi hai bên còn nợ tiền mua bán tiêu thì mới làm giấy với nhau. Về phong tục gửi tiêu tại địa phương: Khi người nông dân thu hoạch tiêu xong muốn gửi tiêu cho các chủ vựa tiêu như ông H2, bà H1 thì hai bên sẽ tiến hành cân tiêu (có thể mua tại vườn tiêu), khi nào bán thì sẽ tính giá tại thời điểm đó, sau đó chủ vựa tiêu sẽ ghi 01 giấy gửi tiêu/nhận tiêu cho người gửi tiêu, giấy này do người gửi tiêu giữ, còn chủ vựa tiêu ghi vào sổ sách của họ. Trong quá trình gửi tiêu, nếu người gửi tiêu muốn bán tiêu thì họ đến gặp chủ vựa tiêu để bán và nhận tiền, sau đó chủ vựa tiêu sẽ ghi phía dưới giấy gửi tiêu/nhận tiêu là đã bán bao nhiêu tiêu, nếu bán hết tiêu đã gừi thì sẽ ghi chữ “R” (rồi) hoặc xé bỏ luôn giấy gửi tiêu/nhận tiêu.

Bà N tham khảo bản chính “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 giữa bà Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 và ông C, bà L thì theo bà N có nghĩa là bà H1, ông H2 đã bán cho ông C, bà L 14 tấn tiêu. Còn sau đó ông C, bà L có gửi 14 tấn tiêu này lại cho bà H1, ông H2 hay không thì bà N không biết. Bà N không biết việc mua bán, gửi tiêu giữa ông C, bà L và ông H2, bà H1.

- Tại bản án dân sự sơ thẩm số 51/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực Y, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định như sau:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Thanh C, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Kim L đối với bị đơn ông Trần Đình H2, bà Ngô Thị H1.

Buộc ông Trần Đình H2, bà Ngô Thị H1 trả lại cho ông Huỳnh Thanh C, bà Lê Thị Kim L giá trị 14.000kg tiêu với giá 153.000 đồng/kg = 2.142.000.000đ (Hai tỷ một trăm bốn mươi hai triệu đồng).

Ghi nhận sự thoả thuận giữa ông Huỳnh Thanh C, bà Lê Thị Kim L và ông Trần Đình H2, bà Ngô Thị H1. Buộc ông H2, bà H1 trả lại cho ông C, bà L giá trị 5.300kg tiêu với giá 167.000 đồng/kg = 885.100.000đ (Tám trăm tám mươi lăm triệu một trăm nghìn đồng).

Tổng cộng số tiến ông H2, bà H1 phải trả cho ông C, bà L là 3.027.100.000đ (Ba tỷ không trăm hai mươi bảy triệu một trăm nghìn đồng).

2. Tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 05/2024/QĐ-BPKCTT ngày 22/7/2024 của Toà án nhân dân huyện X (nay là TAND Khu vực Y- thành phố Hồ Chí Minh) về việc phong toả tài sản của người có nghĩa vụ đối với thửa đất 149 tờ bản đồ số 151 diện tích 11259,2m2 đất CLN tại xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã H, thành phố Hồ Chí Minh) của ông Trần Đình H2, bà Ngô Thị H1 để bảo đảm cho việc thi hành án.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ do chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.

- Ngày 17 tháng 9 năm 2025, ông H2, bà H1 là bị đơn nộp đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng: Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc kiện đòi 14 tấn tiêu.

- Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Kháng cáo của bị đơn ông Trần Đình H2, bà Ngô Thị H1 là không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

Đơn kháng cáo của ông Trần Đình H2, bà Ngô Thị H1 trong thời hạn luật định, bảo đảm thủ tục nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Xét kháng cáo của bị đơn:

Theo trình bày của các đương sự và tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, thấy: Vợ chồng ông Huỳnh Thanh C, bà Lê Thị Kim L có giao dịch mua bán, gửi tiêu cho vợ chồng bà Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2 làm nghề thu mua nông sản là chủ vựa tiêu Hoa Hành tại ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã H, thành phố Hồ Chí Minh) như sau:

- Lần 1: Vào ngày 10/5/2021, ông Huỳnh Thanh C có thỏa thuận mua 14 tấn (14.000kg) tiêu của vợ chồng bà H1, ông H2 với giá 70.000 đồng/kg, thành tiền là 980.000.000 đồng, việc mua bán tiêu chỉ thực hiện trên giấy tờ, không giao nhận tiêu thực tế. Bà H1, ông H2 có viết, ký tên vào giấy bán tiêu ngày 10/5/2021 giao cho ông C. Ông C cho rằng đã giao đủ tiền mua tiêu cho bà H1, ông H2 và sau khi mua tiêu xong đã gửi toàn bộ tiêu tại vựa tiêu của bà H1, ông H2, và bà H1, ông H2 có ghi biên nhận tiêu cho ông C nhưng lại ghi là “giấy bán tiêu”. Bị đơn bà H1, ông H2 cho rằng ông C, bà L chưa giao tiền mua tiêu nên việc mua bán tiêu giữa hai bên không thành, sở dĩ bà H1 viết “giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 là theo yêu cầu của ông C, bà L và giấy mua bán này không có giá trị.

Theo lời khai của người làm chứng ông Nguyễn Quốc C1 “chiều ngày 10/5/2021 ông C1 có mang tiền đến tại nhà ông C và bà L để cọc đất 01 tỷ thì thấy ông H2 và bà H1 chờ sẵn tại nhà ông C và bà L, khi ông C1 giao tiền xong cho bà L thì bà L có rút lại hai mươi triệu đồng, số tiền còn lại bà L đã giao lại trực tiếp cho vợ chồng ông H2 và bà H1 ngồi đếm” (BL 113). Lời khai của ông C1 phù hợp trình bày của nguyên đơn là hai bên đã thực hiện giao dịch mua bán tiêu ngày 10/5/2021 và bà H1, ông H2 đã nhận đủ số tiền bán tiêu 980.000.000 đồng của ông C, bà L.

Theo nguyên đơn và những người làm chứng thì phong tục tại địa phương về việc mua bán tiêu và gửi tiêu tại các vựa tiêu tại địa phương (trong đó có vựa tiêu của bà H1, ông H2) thì khi mua bán tiêu theo hình thức mua đứt bán đoạn với nhau, nghĩa là một bên giao tiêu và một bên giao tiền xong hai bên không cần phải làm giấy tờ, còn số tiêu mua và gửi ngay lại vựa tiêu thì chủ vựa tiêu phải viết giấy biên nhận tiêu giao lại cho người mua tiêu và tự ghi vào sổ. Bà H1 xác nhận vợ chồng bà H1 bán tiêu cho ông C, bà L trên giấy tờ mà không bán tiêu trên thực tế vì việc mua bán tiêu nếu thành công thì số tiêu này ông C, bà L sẽ gửi luôn tại vựa tiêu của bà H1, ông H2 (BL 306). Bà H1, ông H2 viết giấy bán tiêu cho ông C, bà L ngày 10/5/2021 với số lượng 14 tấn tiêu, ông C, bà L đang giữ giấy bán tiêu này, phù hợp với việc mua bán tiêu thành công nên không hủy giấy bán tiêu mà ông C, bà L đang giữ giấy bán tiêu này, số tiêu này được gửi luôn tại vựa tiêu của bà H1, ông H2, phù hợp với trình bày của bà H1 nêu trên.

Bà H1 và những người làm chứng xác định “giấy bán tiêu” phải có nội dung về số lượng tiêu cần bán và giá tiêu, còn “giấy gửi tiêu” chỉ có nội dung về số lượng tiêu cần gửi và chất lượng tiêu “dem” mà không ghi giá bán tiêu vì chưa biết thời điểm người gửi tiêu cần bán tiêu đang gửi (BL 305). Tại Giấy bán tiêu ngày 10/5/2021 do bà H1, ông H2 viết cho ông C, bà L thì chỉ có thông tin về số lượng tiêu và chất lượng tiêu (tiêu đầu giá), một mình chữ ký của bên người nhận gửi tiêu là bà H1, ông H2 và giao cho ông C, bà L giữ mà không có giá tiêu, số tiền bán tiêu và không có chữ ký của ông C, bà L, phù hợp trình bày của nguyên đơn là giấy bán tiêu ngày 10/5/2021 là việc gửi tiêu của ông C, bà L cho bà H1, ông H2, phù hợp với trình bày của người làm chứng trực tiếp là ông Nguyễn Quốc C1 nội dung “khi ông C1 giao tiền xong cho bà L thì bà L có rút lại hai mươi triệu đồng. Số tiền còn lại bà L đã giao lại trực tiếp cho vợ chồng ông H2 và bà H1 ngồi đếm để ông C, bà L mua tiêu của ông H2, bà H1 trữ gửi lại tại kho của ông H2, bà H1. Sau khi hai bên đã đếm tiền đủ 980.000.000 đồng và thỏa thuận xong thì vợ chồng ông H2, bà H1 có viết giấy tay bán tiêu và giao lại tờ giấy cho ông C, bà L quản lý giấy bán tiêu trước sự chứng kiến của ông C1” (BL 113).

Trong nội dung chat zalo giữa bà H1 nick “Hoacdoan” và bà L, đoạn ghi âm trao đổi giữa bà H1, ông H2 và ông C, bà L do ông C, bà L nộp cho Tòa án, bà H1, ông H2 thừa nhận các tin nhắn và nội dung trao đổi trên là của bà H1, ông H2. Khi ông C, bà L đề cập đến tổng số tiêu còn lại đang gửi tại vựa tiêu của bà H1, ông H2 là 19,3 tấn và đề nghị bà H1, ông H2 trả tiêu thì bà H1, ông H2 không phản đối về số lượng tiêu trên mà chỉ hứa sẽ trả đủ tiền và cấn đất để trừ nợ cho ông C, bà L. Ngoài ra bà H1 còn cho rằng số tiêu trên là của ông Lê Hùng D là anh trai của bà L và hứa hẹn cấn đất để trừ nợ cho ông D, phù hợp với lời khai của ông D.

Tổng hợp các nội dung đã phân tích nêu trên, thể hiện việc bà H1, ông H2 viết giấy bán tiêu cho ông C, bà L là không đúng nội dung giao dịch là gửi tiêu của ông C, bà L cho bà H1 và ông H2. Do vậy, có căn cứ xác định nội dung “Giấy bán tiêu” ngày 10/5/2021 là việc sau khi ông C, bà L mua tiêu của bà H1, ông H2 xong thì ông C, bà L đã gửi tiêu cho bà H1, ông H2 với số lượng là 14 tấn (14.000kg).

- Lần 2: Ngày 20/4/2022, ông C, bà L gửi cho bà H1, ông H2 6,4 tấn (6.400kg) tiêu, bà H1 có làm giấy tay cho ông C. Quá trình gửi tiêu, ông C đã bán được 1,1 tấn (1.100kg) tiêu, số tiêu còn lại gửi cho bà H1, ông H2 là 5,3 tấn. Lần gửi tiêu này được bà H1, ông H2 thừa nhận và đồng ý trả lại cho ông C, bà L nên ghi nhận.

Về giá tiêu: Tại phiên toà sơ thẩm, hai bên đương sự thống nhất giá tiêu ngày 12/9/2025 đối với 5.300kg tiêu (tiêu đầu giá) là 167.000 đồng/kg và 14.000kg tiêu giá 153.000 đồng/kg nên ghi nhận.

Đối với giao dịch gửi tiền của ông Lê Hùng D đối với ông Huỳnh Thanh C, bà Lê Thị Kim L: Ông Lê Hùng D và ông Huỳnh Thanh C, bà Lê Thị Kim L thống nhất xác nhận do ông C, bà L giao dịch trực tiếp, ký giấy tờ mua bán, gửi giữ tiêu với bà H1, ông H2, nên yêu cầu Toà án giải quyết bà H1, ông H2 có nghĩa vụ thanh toán tiền cho ông C, bà L, sau này giữa ông D và ông C, bà L sẽ tự giải quyết với nhau đối với số tiền ông D gửi ông C, bà L giao dịch mua bán và gửi tiêu với bà H1, ông H2. Ông D không yêu cầu bà H1, ông H2 trả tiền cho ông D trong giao dịch mua bán và gửi tiêu vì ông D không đứng trên giấy tờ giao dịch với bà H1, ông H2, do vậy Tòa án không xem xét giải quyết.

Từ nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Thanh C, bà Lê Thị Kim L đối với bị đơn bà Ngô Thị H1, ông Trần Đình H2. Buộc bà H1, ông H2 trả lại cho ông C, bà L giá trị 19,3 tấn tiêu (19.3000kg), trong đó 5.300kg tiêu giá 167.000 đồng/kg và 14.000kg tiêu giá 153.000.000 đồng/kg, tổng cộng là 3.027.100.000 đồng. Không chấp nhận kháng cáo của ông H2, bà H1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đối với việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 05/2024/QĐ-BPKCTT ngày 22/7/2024 của Toà án nhân dân huyện X (nay là TAND Khu vực Y- Thành phố Hồ Chí Minh) về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ đối với thửa đất 149 tờ bản đồ số 151 diện tích 11259,2m2 đất CLN tại xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã H, thành phố Hồ Chí Minh) của ông Trần Đình H2, bà Ngô Thị H1 để bảo đảm cho việc thi hành án

Án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà H1, ông H2 phải chịu án phí có giá ngạch là: 72.000.000 đồng + 2% x (3.027.100.000 đồng - 2.000.000.000 đồng) = 92.542.000 đồng.

Án sơ thẩm giải quyết nguyên đơn không phải chịu án phí là đúng quy định, tuy nhiên không tuyên trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn là chưa bảo đảm, Tòa án cấp phúc thẩm bổ sung cho bảo đảm.

Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bà H1, ông H2 không được chấp nhận nên bà H1, ông H2 phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Đình H2 và bà Ngô Thị H1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 51/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực Y, Thành phố Hồ Chí Minh, như sau:

Căn cứ Điều 147, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật dân sự; các Điều 26, 27, 29 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Thanh C đối với bị đơn ông Trần Đình H2 và bà Ngô Thị H1.

Ông Trần Đình H2 và bà Ngô Thị H1 có nghĩa vụ trả cho ông Huỳnh Thanh C và bà Lê Thị Kim L tổng số tiền là 3.027.100.000 đồng (ba tỷ không trăm hai mươi bảy triệu một trăm nghìn đồng), gồm các khoản: Giá trị 14.000kg tiêu với giá 153.000 đồng/kg = 2.142.000.000 đồng; giá trị 5.300kg tiêu với giá 167.000 đồng/kg = 885.100.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 05/2024/QĐ-BPKCTT ngày 22/7/2024 của Toà án nhân dân huyện X (nay là TAND Khu vực Y - Thành phố Hồ Chí Minh) về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ đối với thửa đất 149 tờ bản đồ số 151 diện tích 11.259,2m2 đất CLN tại xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã H, thành phố Hồ Chí Minh) của ông Trần Đình H2, bà Ngô Thị H1 để bảo đảm cho việc thi hành án.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

3.1. Bị đơn ông Trần Đình H2 và bà Ngô Thị H1 phải chịu 92.542.000 đồng (chín mươi hai triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn đồng).

3.2. Hoàn trả cho ông Huỳnh Thanh C 46.880.000 đồng (bốn mươi sáu triệu, tám trăm tám mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000864 ngày 24/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực Y, Thành phố Hồ Chí Minh).

4. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Trần Đình H2 và bà Ngô Thị H1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Trừ vào số tiền tạm ứng 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0019963 ngày 25/9/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Đã nộp đủ.

5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- VKSND TP Hồ Chí Minh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND khu vực Y, TP Hồ Chí Minh;

- T24;

- Phòng THADS khu vực Y, TP Hồ Chí Minh;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Trương Văn Tâm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn T5

Các Thẩm phán:

Bà Đào Thị H7

Bà Bùi Thị T6

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà V - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Vũ Duyên T7 - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở A) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 316/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 77/2025/QĐ-PT ngày 28/3/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2025/QĐ-PT ngày 28/4/2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 36/2025/QĐ-PT ngày 20/5/2025, Thông báo về thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa số12086/2025/TB-TA ngày 29/7/2025, Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 15425/2025/TB-TA ngày 26/8/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 17138/2025/QĐ-PT ngày 16/9/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 17828/2025/QĐ-PT ngày 27/9/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Cao Thanh T8 năm 1985 và bà Vũ Thị X năm 1992; Địa chỉ: Số B, Khu phố D, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc Đ năm 1987; Địa chỉ: Số D, khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã L, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).

2. Bị đơn: Bà Trần Công Tú A năm 1983. Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Võ Thị Ngự B năm 1971; Địa chỉ: Số D N, Phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường V, Thành phố Hồ Chí Minh(Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

3.2. Ông Trần Thế V1 năm 1975; Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

3.3. Bà Đoàn Thị V2 năm 1963. Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

3.4. Ông Ngô Thành L1 năm 1994. Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (nay là xã L, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).

3.5 Ngân hàng TMCP Á Địa chỉ: Số D N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Minh T9 – Nhân viên xử lý nợ. (Có mặt).

4. Người làm chứng:

4.1. Bà Nguyễn Thị Hồng D1 năm 1975; Địa chỉ: Ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

4.2. Ông Trần Công T2sinh năm 1967; Địa chỉ: Đường G, ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).

5. Người kháng cáo: Bà Trần Công T10 A là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Cao Thanh T11 Vũ Thị X1 và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Ngày 24/10/2022 ông T, bà X2 hợp đồng với bà Võ Thị N1 B nhận chuyển nhượng diện tích đất 367,4m2 thửa 2346 tờ bản đồ số 45, xã H, thành phố B chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt: Giấy CNQSD đất) số CD 502778 ngày 05/7/2016 do bà Trần Công T10 Ađứng tên, đã chỉnh lý sang tên bà Võ Thị N1 Bngày 18/7/2022. Hợp đồng được công chứng ngày 24/10/2022 tại Văn phòng C Việc chuyển nhượng giữa hai bên đã xong, bà B1 giao nhà, đất cho ông T11 Xvà ông Tbà X3 chỉnh lý sang tên trên Giấy CNQSD đất ngày 28/10/2022.

Tại thời điểm nhận nhà đất thì không có ai ở, do chưa có nhu cầu sử dụng nên ông T13 cổng, cửa nhà để đó. Được thời gian thì phát hiện có người đàn ông ở trong nhà, sau này mới biết là ông Vĩnh chồng bà T10 AÔng Tcó yêu cầu ông Vĩnh di D1ra khỏi chỗ ở để trả lại nhà đất, ông V3 chỉ ở chứ không liên quan đến nhà, đất và đồng ý sẽ di dời chỗ ở khác. Nhưng khi ông V4 chuyển chỗ ở thì bà T10 Atự ý đến ở và ngăn cản việc ông Tsử dụng nhà đất. Mặc dù nhiều lần yêu cầu nhưng vợ chồng bà T10 Avẫn không di dời chỗ ở trả lại nhà đất nên ông T14 khởi kiện.

Theo sơ đồ vị trí ngày 16/5/2024 của Trung tâm Kỹ thuật TN-MT tỉnh B trên thửa đất tranh chấp có 01 căn nhà cấp 4, hàng rào quanh nhà; 01 chuồng gà; 01 phần mái che bằng tôn trước nhà; 01 phần chòi lá của bà Đoàn Thị V5(mẹ bà Tú A1 phần sân và hàng rào nằm trong thửa 2347 tờ bản đồ số 45 xã H, thành phố B ông L2 đứng tên giấy chứng nhận.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện nguyên đơn yêu cầu vợ chồng bà T10 Adi dời chỗ ở trả lại nhà, đất và tài sản khác trên đất cho ông T11 Xthuộc thửa 2346 tờ bản đồ số 45 xã H, thành phố B

Đối với 1 phần chòi lá của bà V1bà V1có lời khai đồng ý tháo dỡ nên thống nhất.

Đối với 1 phần sân và hàng rào nằm trong thửa 2347 tờ bản đồ số 45 xã H, thành phố B yêu cầu giải quyết trong vụ này nên không có ý kiến gì. Nếu ông L3 yêu cầu thì hai bên sẽ tự thỏa thuận với nhau.

* Theo đơn yêu cầu phản tố và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Công Tú A2 bày: Bà Nguyễn Thị Hồng D2 người buôn bán bất động sản và cũng là người chuyên cầm sổ đỏ. Ngày 03/7/2019 bà Tú A15 vay của bà D1,9 tỷ đồng; mục đích vay để làm ăn và thời hạn trả là 06 tháng kể từ ngày vay. Việc vay tiền hai bên không làm hợp đồng, nhưng cùng ngày 03/7/2019 bà có viết giấy cam kết đến ngày 03/01/2020 sẽ mua lại với giá gốc 1,9 tỷ đồng và trả lãi gấp đôi mức lãi suất ngân hàng, còn bà không có nhu cầu mua lại thì bên bà D14 quyền bán lại cho người khác bà không có bất kỳ đòi hỏi gì.

Mặc dù vay 1,9 tỷ đồng nhưng bà D3 đưa có 1,3 tỷ đồng, còn 600.000.000 đồng bà D4 lại tính tiền dịch vụ 3% là 57.000.000 đồng; tiền lãi 66.500.000 đồng. Số còn lại 476.500.000 đồng bà D4 không giao cho bà.

Để bảo đảm cho khoản vay trên, bà có thế chấp cho bà D01 Giấy CNQSD đất số CD 502778 ngày 05/7/2016 đứng tên bà Trần Công T10 Ađối với thửa đất số 2346/367,4m2 tờ bản đồ số 45 xã H, thành phố B thế chấp bằng hình thức ký hợp đồng chuyển nhượng đất với bên mua là bà Võ Thị N1 B(bạn của bà D5 đồng được công chứng ngày 08/7/2019, tại Văn phòng C

Sau khi vay tiền xong, bà Tú Ađi C2 làm ăn 02 năm nên đến ngày 03/01/2020 bà không thể chuộc lại đất như cam kết được. Đến tháng 12/2021 bà mới về nước, bà D14 cho bà chuộc lại nhà đất, nhưng chưa kịp chuẩn bị tiền thì bà D6 tự ý làm thủ tục sang tên đất cho bà B2 18/7/2022, sau đó thì bà B3 nhượng lại cho ông T11 X

Thửa đất trên là tài sản riêng của bà, còn căn nhà và tài sản trên đất là của bà với chồng là ông Trần Thế Vĩnh .Nhưng ông V6 giao lại toàn bộ cho bà sở hữu tự quyết định, ông V7 còn liên quan đến nhà đất này. Bà xác định chỉ là người thế chấp đất vay tiền của bà D7 không chuyển nhượng nhà đất cho ai và cũng không biết bà B11 ông Tbà X4 ai. Do đó bà không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn. Đồng thời giữ nguyên yêu cầu phản tố, yêu cầu Tòa án giải quyết:

1. Hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà với bà Võ Thị N1 B được công chứng ngày 08/7/2019 tại Văn phòng Cđối với thửa 2346/367,4m2 tờ bản đồ số 45 xã HVì hợp đồng này là giả tạo che giấu hợp đồng vay tài sản giữa bà với bà D16 không có giá trị pháp lý.

2. Hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà Võ Thị N1 Bvới ông Cao Thanh T11 Vũ Thị X5 công chứng ngày 24/10/2022 tại Văn phòng Cđối với thửa đất trên. Vì hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà với bà B12 giả tạo nên bà B4 có quyền gì đối với nhà, đất này.

* Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị N1 Btrình bày: Ngày 03/7/2019 qua giới thiệu, bà Trần Công Tú A3 thuận bán nhà, đất cho bà, đất có diện tích 367,4m2 thửa số 2346 tờ bản đồ 45, xã H, thành phố B chứng nhận số CD 502778 ngày 05/7/2016 do bà Tú A4 tên sử dụng. Sau khi thỏa thuận mua bán xong thì bà Tú A15 nguyện vọng sau này sẽ mua lại nên có viết giấy tay cam đến ngày 03/01/2020 sẽ mua lại với giá 1,9 tỷ đồng và tiền lãi theo mức lãi suất gấp đôi ngân hàng. Sau đó, ngày 08/7/2019 hai bên tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng đất được công chứng tại Văn phòng CDo bà ở xa và thường xuyên đi công việc nước ngoài chưa có thời gian làm thủ tục sang tên nên đồng ý với cam kết của bà Tú A

Sau khi hết thời gian cam kết nhưng bà Tú A5 có nhu cầu mua lại nhà, đất nên bà làm thủ tục sang tên và được Chi nhánh Văn phòng ĐKĐĐ thành phố Bchỉnh lý sang tên bà Võ Thị N1 Bngày 18/7/2022. Do không có nhu cầu sử dụng nên ngày 24/10/2022 bà ký hợp đồng chuyển nhượng lại nhà, đất trên cho vợ chồng ông Cao Thanh T15 bà Vũ Thị X6 ông Tbà X3 chỉnh lý sang tên ngày 28/10/2022. Hợp đồng giữa bà và vợ chồng ông T16 đã thực hiện xong.

Như vậy, việc chuyển nhượng đất từ bà Tú A6 bà và bà chuyển nhượng cho vợ chồng ông T17 đúng quy định và đã thực hiện xong nên bà không còn liên quan gì đến nhà đất trên. Do đó, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định.

* Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thế V8 trình bày: Ông là chồng của bà Trần Công T10 AÔng Vxác nhận đất mà ông T18 chấp với bà T10 Alà tài sản riêng của bà Tú A7 với căn nhà cấp 4 và tài sản trên đất là tài sản chung của ông với bà T10 AÔng đã giao nhà, đất cho bà T10 Atự quyết định, ông không còn liên quan đến căn nhà này nữa.

* Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị V5 trình bày: Trước đây bà có cất 1 chòi tạm bằng lá và cây trên đất hiện nay do Trần Công T10 A(con gái bà) đứng tên giấy chứng nhận. Trong đó có 1 phần mái của nhà tạm diện tích khoảng 11,4m2 nằm bên thửa đất hiện các đương sự đang tranh chấp. Bà xác định chòi lá của bà cũng đã mục nát không còn giá trị nên trường hợp Tòa án giải quyết có yêu cầu bà tháo dỡ thì bà đồng ý và không yêu cầu gì.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Ngân hàng TMCP Á trình bày: Ngày 29/10/2022 vợ chồng ông Cao Thanh T11 Vũ Thị X7 thế chấp cho Ngân hàng TMCP Á(viết tắt: Ngân hàng A1quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tại thửa số 2346 theo Giấy CNQSD đất số CD 502778 (được cập nhật biến động sang tên cho vợ chồng ông T19 28/10/2022) để vay tiền, theo hợp đồng thế chấp số VTA.BĐCN.63.261022, hợp đồng được công chứng tại Phòng C4 tỉnh Bvà đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố BNhư vậy, hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật, đồng thời có hiệu lực đối kháng với người thứ 3.

Vợ chồng ông T20 chuyển nhượng đất và đã được cập nhật sang tên nên có quyền sở hữu, sử dụng đất theo quy định. Trường hợp nếu bà Tú A8 quản lý, sử dụng không có căn cứ pháp luật thì phải có nghĩa vụ trả lại tài sản là nhà đất tại thửa số 2346 cho vợ chồng ông TĐề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T11 X

Do hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng với vợ chồng ông T21 đến hạn nên Ngân hàng không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Trường hợp vợ chồng ông T22 phạm hợp đồng tín dụng thì Ngân hàng sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.

* Bà Nguyễn Thị Hồng D8 bày: Ngày 03/7/2019 bà có giới thiệu cho bà Võ Thị N1 Bmua nhà đất của bà Trần Công Tú A9 bà không phải là người cho bà T10 Avay tiền như bà Tú A2 bày. Khi đó, bà Tú A15 viết giấy cam kết 06 tháng sau, tức đến ngày 03/01/2020 bà T10 Asẽ mua lại nhà đất bằng giá bán 1,9 tỷ đồng và trả thêm khoản tương đương hai lần lãi suất ngân hàng, nếu quá 06 tháng không mua lại thì thì bà B5 bán lại cho người khác. Bà là người làm chứng ký trong giấy cam kết viết tay này. Sau đó, ngày 08/7/2019 bà Tú A16 bà B6 hành công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất tại Văn phòng C

Mặc dù hết thời hạn nói trên, bà B7 đề nghị bà Tú A10 lại nhà đất nhưng bà Tú A11 không thực hiện nên bà B8 làm thủ tục sang tên và ngày 24/10/2022 bà B9 hợp đồng chuyển nhượng nhà đất lại cho ông T11 XViệc chuyển nhượng nhà, đất giữa bà T10 Avới bà B11 bà B10 ông Tbà X8 hợp pháp và có thật.

Bà D9 định là người làm chứng trong vụ án chứ không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định.

* Người làm chứng ông Trần C3 T2trình bày: Ông là người giới thiệu bà Tú A12 nhà đất cho bà D10 bên viết giấy tay và có nhờ ông T2ký làm chứng, nhưng do không đọc nội dung nên ông không biết nội dung cụ thể thế nào, chỉ nghe Tú A13 là cầm khoảng 1,9 tỷ. Sau đó tất cả có ra Văn phòng Cđể công chứng chuyển nhượng đất. Ngoài ra ông không còn biết gì thêm.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh) đã quyết định như sau:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

1. Xác định diện tích đất 367,4m2 thửa 2346, tờ bản đồ số 45 xã H, thành phố B CNQSD đất số CD 502778 ngày 05/7/2016 (đã được chỉnh lý sang tên ông T15 bà X9 18/7/2022) thuộc quyền sử dụng của ông Cao Thanh T15 bà Vũ Thị X1

Ông Cao Thanh T15 bà Vũ Thị X5 quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất gồm: Căn nhà 01 tầng, loại 3, diện tích 86,1m2, mái lợp tôn lạnh, tường xây, cửa gỗ, nền gạch ceramic; 01 mái che bằng tôn, diện tích 21,6m2 nền xi măng; tường rào trên đất, móng đá, xây gạch, khung sắt lưới B40; chuồng gà diện tích 17,6m2.

(Nhà, đất theo sơ đồ vị trí ngày 16/5/2024 của Trung tâm K3

2. Buộc bà Trần Công T10 Avà ông Trần Thế V9 di dời chỗ ở khác trả lại cho ông T11 Xthửa đất số 2346 và tài sản gắn liền với đất nêu trên.

3. Bà Đoàn Thị V10 nghĩa vụ tháo dỡ toàn bộ phần mái che bằng lá và cây trả lại 11,4m2 đất thuộc thửa số 2346, tờ bản đồ số 45 xã H, thành phố B ông T11 X

4. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn về việc hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đất ngày 08/7/2019 giữa bà Trần Công T10 Avới bà Võ Thị Ngự B11 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đất ngày 24/10/2022, giữa bà Võ Thị N1 Bvới ông Cao Thanh T11 Vũ Thị X1

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ do chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.

* Ngày 13/8/2024 bà Trần Công T10 A là bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết:

1. Hủy toàn bộ các Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất:

+ Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất số 4334 giữa bà Trần Công T10 Avới bà Võ Thị N1 B được công chứng ngày 08/7/2019 tại Văn phòng Cđối với thửa 2346/367,4m2 tờ bản đồ số 45 xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

+ Hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất số 10294 giữa bà Võ Thị N1 Bvới ông Cao Thanh T11 Vũ Thị X5 công chứng ngày 24/10/2022 tại Văn phòng Cđối với thửa 2346/367,4m2 tờ bản đồ số 45 xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Để giao trả lại toàn bộ quyền sử dụng đất cho bà Trần Công T10 A

* Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố và yêu cầu kháng cáo, các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Toà án cấp sơ thẩm xác định tư cách bà Nguyễn Thị Hồng D2 người làm chứng trong vụ án là không phù hợp, vì theo lời khai của bị đơn bà Trần Công T10 Avà các chứng cứ kèm theo thể hiện bà D2 người có liên quan đến yêu cầu phản tố của bà Trần Công Tú A14, do đó cần xác định bà D2 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

- Về nội dung vụ án: Bà Trần Công Tú A14 cho rằng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Võ Thị Ngự B12 giả tạo, mục đích thế chấp để đảm bảo vay tiền của bà D11 Giấy mượn tiền có thế chấp 03 cuốn sổ đỏ ghi ngày 19/7/2018, Toà án cấp sơ thẩm không xác minh làm rõ nội dung giấy mượn tiền này cũng như trình bày của bà Trần Công T10 Avề việc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà B12 giả tạo, mục đích thế chấp để đảm bảo cho việc vay tiền. Tòa án chưa xác minh việc sinh sống của gia đình bà Trần Công Tú A14, tuy bà Trần Công Tú A15 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà B13 theo trình bày thì gia đình bà vẫn sinh sống bình thường trên nhà đất đã chuyển nhượng, thực tế không có việc chuyển nhượng nhà đất. Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với diện tích đất 367,4m² thuộc thửa 2346, tờ bản đồ số 45 xã H, thành phố B liên quan đến Hợp đồng thế chấp tài sản số VTA.BĐCN.63.261022 ngày 29/10/2022 với Ngân hàng TMCÁ Átuy nhiên bà Tú A5 được thông báo việc thế chấp được thực hiện ở đâu, như thế nào, để có ý kiến và yêu cầu đối với việc thế chấp này. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã có những thiếu sót về thủ tục tố tụng và trong việc thu thập chứng cứ, dẫn đến chưa giải quyết đầy đủ, toàn diện nội dung vụ án, chưa đảm bảo quyền lợi của các đương sự, đồng thời làm khó khăn cho công tác thi hành án khi bản án có hiệu lực pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

Xét kháng cáo của bị đơn bà Trần Công T10 A:

Theo đơn phản tố và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bà Trần Công Tú A2 bày không có giao dịch chuyển nhượng nhà và quyền sử dụng đất với bà Võ Thị Ngự B14 thực chất là giao dịch vay mượn tiền với bà Nguyễn Thị Hồng D2 người buôn bán bất động sản và cũng là người chuyên cầm sổ đỏ. Ngày 03/7/2019 bà Trần Công T10 A có vay của bà D1,9 tỷ đồng, thời hạn trả là 06 tháng kể từ ngày vay. Việc vay tiền hai bên không làm hợp đồng. Mặc dù vay 1,9 tỷ đồng nhưng bà D3 đưa có 1,3 tỷ đồng, còn 600.000.000 đồng bà D4 lại tính tiền dịch vụ 3% là 57.000.000 đồng; tiền lãi 66.500.000 đồng. Số còn lại 476.500.000 đồng bà D4 không giao cho bà. Để bảo đảm cho khoản vay trên, bà có thế chấp cho bà D12 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 502778 ngày 05/7/2016 đứng tên bà Trần Công T10 Ađối với thửa đất số 2346/367,4m2 tờ bản đồ số 45 xã H, thành phố B thế chấp bằng hình thức ký hợp đồng chuyển nhượng đất với bên mua là bà Võ Thị N1 B(bạn bà D5 đồng được công chứng ngày 08/7/2019 tại Văn phòng C Đến tháng 12/2021 bà D14 cho bà chuộc lại nhà đất, nhưng chưa kịp chuẩn bị tiền thì bà D6 tự ý làm thủ tục sang tên đất cho bà B2 18/7/2022, sau đó thì bà B3 nhượng lại cho ông T11 X Bà Trần Công T10 A xác định bà chỉ là người thế chấp đất vay tiền của bà D7 không chuyển nhượng nhà đất cho ai và cũng không biết bà B11 ông Tbà X4 ai. Do đó bà không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn. Đồng thời bà yêu cầu phản tố, yêu cầu Tòa án giải quyết:

Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Công T10 A với bà Võ Thị N1 B được công chứng ngày 08/7/2019 tại Văn phòng Cđối với thửa 2346/367,4m2 tờ bản đồ số 45 xã HVì hợp đồng này là giả tạo che giấu hợp đồng vay tài sản giữa bà với bà D16 không có giá trị pháp lý.

Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Võ Thị N1 Bvới ông Cao Thanh T11 Vũ Thị X5 công chứng ngày 24/10/2022 tại Văn phòng Cđối với thửa đất trên. Vì hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà với bà B12 giả tạo nên bà B4 có quyền gì đối với nhà, đất này.

Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bà Trần Công T10 A cung cấp cho Tòa án bản gốc Giấy mượn tiền có thế chấp 3 cuốn sổ đỏ ngày 19/7/2018 của người cho mượn là Nguyễn Thị Hồng D13 tiền mượn 2.400.000.000 đồng có thế chấp 3 cuốn sổ đỏ, trong đó có thửa đất số 2346 tờ bản đồ số 45 diện tích 367m2 hiện đang tranh chấp trong vụ án, bà Nguyễn Thị Hồng D14 ký tên vào phần người cho mượn trong giấy mượn tiền nêu trên.

Như vậy, bà Nguyễn Thị Hồng D2 người có liên quan đến yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Công T10 A. Để bảo đảm giải quyết vụ án thì phải xác định bà Nguyễn Thị Hồng D2 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án để giải quyết, làm rõ khoản tiền theo Giấy mượn tiền có thế chấp 3 cuốn sổ đỏ ngày 19/7/2018 giữa bà Trần Công Tú A14 và bà Nguyễn Thị Hồng D14 liên quan như thế nào đến Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Công Tú A14 và bà Võ Thị N1 B trong vụ án, có hay không việc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Công T10 Avà bà Võ Thị N1 B trong vụ án là giả tạo nhằm che dấu hợp đồng vay tiền giữa bà Trần Công Tú A16 bà Nguyễn Thị Hồng D15 giải quyết. Án sơ thẩm xác định bà Nguyễn Thị Hồng D2 người làm chứng và chưa làm rõ khoản tiền theo Giấy mượn tiền có thế chấp 3 cuốn sổ đỏ ngày 19/7/2018 giữa bà Trần Công Tú A14 và bà Nguyễn Thị Hồng D14 liên quan như thế nào đến Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Công Tú A14 và bà Võ Thị Ngự B15 giải quyết là chưa bảo đảm căn cứ giải quyết vụ án.

Ngoài ra, bà Trần Công Tú A14 cho rằng vợ chồng bà Trần Công T10 Aquản lý, sử dụng nhà và đất tranh chấp trong vụ án từ trước đến nay, thời gian bà T10 Avắng nhà thì có chồng bà T10 Aquản lý và sử dụng, không có việc chuyển nhượng nhà, đất trên thực tế cho bà Võ Thị N1 B và không có việc bàn giao nhà, đất cho bà B. Do vậy, cần xác minh làm rõ quá trình quản lý, sử dụng nhà và đất tranh chấp từ trước đến nay liên quan đến việc xem xét có hay không việc bàn giao nhà, đất giữa bà Trần Công T10 Avới bà Võ Thị Ngự B17 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong vụ án để bảo đảm giải quyết toàn diện vụ án.

Những nội dung trên chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung khắc phục được, nên hủy bản án sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại vụ án.

Do tại Tòa án cấp phúc thẩm, bà Trần Công T10 A mới cung cấp giấy mượn tiền có thế chấp 3 cuốn sổ đỏ ngày 19/7/2018 có liên quan đến bà Nguyễn Thị Hồng D16 xác định đây là tình tiết phát sinh mới.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Công T10 A không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” giữa nguyên đơn ông Cao Thanh T11 Vũ Thị X10 bị đơn bà Trần Công T10 A.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

2. Án phí dân sự phúc thẩm: Hlại cho bà Trần Công T10 A số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003311 ngày 31/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 30/9/2025).

THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Huệ Bùi Thị Thương Trương Văn T23

Cỡ chữ