vanban.org

Bản án 322/2020/HSST-QĐ — Hình sự

TAND huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định Tuyên án 06/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Tùng L phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

Xử phạt bị cáo Lê Tùng L 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án phạt tù. Việc bồi thường thiệt hại và xử lý vật chứng đã được giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự Lê Tùng Linh - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Tùng L phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA AÙN NHAÂN DAÂN
HUYỆN PHÙ MỸ
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Baûn aùn soá:06/2020/HS-ST
Ngaøy 06-3-2020.

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOAØ XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TÒA ÁN NHAÂN DAÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH

-Thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù:

Thaåm phaùn - Chuû toaï phieân tòa: OÂng Ngô Văn Thành

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Lê Tiến Dũng; 2. Ông Võ Lê Thi Văn.

-Thö kyù phieân tòa: Ông Nguyễn Đình Toàn -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

-Ñaïi dieän Vieän kieåm saùt nhaân daân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phieân tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường- Kiểm sát viên.

Ngaøy 06 thaùng 3 naêm 2020, taïi trụ sở Tòa án nhaân daân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xeùt xöû sô thaåm công khai vuï aùn hình söï thuï lyù soá: 06/2020/HSST, ngaøy 10 thaùng 02 naêm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xeùt xử số:322 /2020/HSST- QĐ, ngày 19/02/2020, ñoái vôùi bò caùo:

Họ và tên: Lê Tùng L, sinh năm 1996; tại: Xã M Q, huyện Phù Mỹ. Nơi cư trú: Thôn T T 1, xã M Q, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; con ông Lê Văn L và bà Đinh Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Trần Đăng K, sinh năm 2013 (chết); nơi cư trú: Khu phố T Q, thị trấn P M, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

Người đại diện hợp pháp của bị hại Trần Đăng K: Ông Trần Ngọc P, sinh năm 1987; nơi cư trú: Khu vực 2, phường B T X, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

2. Trần Hồ Yến T, sinh năm 2012; nơi cư trú: Khu phố T Q, thị trấn P M, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

Người đại diện hợp pháp của bị hại Trần Hồ Yến T: Ông Trần Hoàng L, sinh năm 1986; nơi cư trú: Khu phố T Q, thị trấn P M, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

Ông Trần Ngọc P và ông Trần Hoàng L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 31/10/2019, Lê Tùng L cùng Phan Văn T uống rượu tại thôn TT 3, xã M Q, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô 77N2 – 1544 chở L đến quán nhậu “T H” tại thôn B T, xã M Q, huyện Phù Mỹ. Tại đây, T gặp một số người quen của mình nên T và L cùng uống bia với những người này. Trong lúc uống bia, T cầm ly qua bàn bên cạnh để mời bia thì L tự ý lấy chìa khóa xe mô tô 77N2 – 1544 rồi điều khiển xe đi về hướng thị trấn P M, huyện Phù Mỹ để giải quyết việc riêng. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Lđiều khiển xe mô tô 77N2 – 1544 chạy trên đường ĐT 632 theo hướng Đông – Tây, trên phần đường dành cho xe cơ giới bên phải theo chiều đi của L. Khi xe mô tô do L điều khiển vừa chạy qua cửa hàng xăng dầu P M thuộc khu phố T , thị trấn P M, huyện Phù Mỹ thì L đánh rơi mũ nên quay đầu lại nhìn thì phần đầu phía trước xe của L tông vào Trần Đăng K và Trần Hồ Yến Tđang chơi bắn bi ở lề phía Bắc đường ĐT 632.

Sau khi xảy ra tai nạn giao thông, Trần Đăng K, Trần Hồ Yến T và Lê Tùng L bị thương đựơc đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, đến ngày 01/11/2019 thì K tử vong; Lê Tùng L và Trần Hồ Yến Tbị thương nhẹ, sau khi xuất viện gia đình Trần Hồ Yến T đã làm đơn bãi nại và không yêu cầu xử lý.

Trong quá trình L được cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Phù Mỹ tổ công tác của Công an huyện Phù Mỹ phối hợp với Trung tâm y tế huyện Phù Mỹ tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của L nhưng sau khi kiểm tra xong, L không ký vào biên bản mà có hành vi la lối, cản trở. Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Lê Tùng L đo được vào lúc 15 giờ 40 phút ngày 31/10/2019 là 1,237 miligam/l lít khí thở.

Ngày 05/11/2019 Trung tâm Pháp y tỉnh Bình Định kết luận nguyên nhân chết của Trần Đăng K là do: Chấn thương sọ não chảy máu nội sọ hai bán cầu chèn ép não điều trị không hồi phục.

Về dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn giao thông, gia đình Lê Tùng L đã bồi thường cho gia đình Trần Đăng K số tiền 50.000.000 đồng; Gia đình Trần Hồ Yến T số tiền 3.500.000 đồng, các bên đã thỏa thuận xong phần dân sự.

Về xử lý vật chứng: Ngày 07/01/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Mỹ ra quyết định xử lý vật chứng giao trả xe mô tô 77N2 - 1544 cho anh Phan Văn T, chủ sở hữu không yêu cầu bồi thường thiệt hại về phần hư hỏng do tai nạn giao thông gây ra.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Tùng L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo Lê Tùng L phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ và các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa.

Bản cáo trạng số:07/CT-VKS-PM, ngày 06/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ đã truy tố bị cáo Lê Tùng L về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo các điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lê Tùng L và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Tùng L từ 03 đến 04 năm tù.

Về dân sự và xử lý vật chứng đã giải quyết xong nên không xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo Lê Tùng L là xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, caên cöù vaøo các taøi lieäu trong hồ sơ vụ án ñaõ ñöôïc thaåm tra, xét hỏi, tranh luận taïi phieân tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Trên cơ sở xem xét một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ các chứng cứ có tại hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo Lê Tùng L, không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô trong tình trạng có sử dụng bia, rượu mà trong hơi thở có nồng độ cồn 1,237 miligam/l lít khí thở là đã vượt quá mức quy định (0,25 miligam/l lít khí thở), không chú ý quan sát phía trước, đã gây ra tai nạn giao thông vào khoảng 15 giờ ngày 31/10/2019, trên đường ĐT 632, thuộc khu phố TQ, thị trấn P M, huyện Phù Mỹ, làm chết cháu Trần Đăng K và bị thương cháu Trần Hồ Yến T là vi phạm pháp luật, đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo các điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình đã gây ra.

. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, chưa có tiền án, tiền sự, đã tích cực tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bên bị hại; đại diện gia đình bị hại có đơn bãi nại về dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho cho bị cáo; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi. Đó là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

. Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ và nhâ thân bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tách ly bị cáo ra ngoài xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theop pháp luật và các quy tắc của cuộc sống. Đồng thời, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

.Việc bồi thường thiệt hại và xử lý vật chứng đã được giải quyết xong. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ tại phiên tòa, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Tùng L phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

- Áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự năm 2015

Xử phạt bị cáo Lê Tùng L 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

- Việc bồi thường thiệt hại và xử lý vật chứng đã được giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Lê Tùng L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.Những người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được niêm yết bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ