- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 322/2018/HS-ST Ngày: 30/11/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Loan
2.Ông Phạm Văn Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Huyền
- Kiểm sát viên
Ngày 30/11/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 385/2018/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 303/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2018, đối với bị cáo:
Lê Văn H - Sinh ngày 08 tháng 6 năm 1994 tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký NKTT và chỗ ở: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H (chết) và bà Lê Thị T; vợ: chưa; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2018, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma tuý nên khoảng 09h ngày 29/8/2018 Lê Văn H bắt xe buýt đến nhà Đoàn Văn T nhờ T chở lên thành phố Thanh Hóa nói là có việc, khi đi qua cầu B, H bảo T đứng ngoài đợi còn H đi bộ vào trong ngõ 11, Kiều Đại 2, phường Đông Vệ, TPTH H gặp và mua được 01 gói ma túy với giá 200.000đ của một nam thanh niên khoảng 25 tuổi cao khoảng 1,60cm sau đó H cầm trong tay ra chỗ T nhờ T chở về. Khoảng 09h45' cùng ngày, Đoàn Văn T chở H đi đến trước bệnh viện lao phổi Thanh Hóa, trên quốc lộ 45 thì bị phòng PC 04 công an tỉnh Thanh Hóa phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên tay phải của Lê Văn H (người ngồi sau) 01 gói ni lông màu trắng bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng (theo H khai đây là ma túy đá), H tàng trữ mục đích sử dụng, 120.000đ và 01 điện thoại di động Masstel đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số: 1802/MT – PC09 ngày 31/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,324 là ma túy, loại Methamphetamine.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho H, cơ quan điều tra tiến hành điều tra xác minh tại khu vực ngõ 11 Kiều Đại 2, phường Đông Vệ, TPTH nhưng không có ai có đặc điểm như lời khai của Hùng nên không có cơ sở xử lý.
Đối với Đoàn Văn T – Sinh năm 1990 ở thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa là người điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36N1 - 7249 chở H đi mua ma túy, quá trình điều tra xác định H không nói cho T biết việc H mua và tàng trữ ma túy trong người do đó không có cơ sở xử lý T.
Đối với số tiền 120.000đ, 01 điện thoại di động Masstel, phòng PC04 công an tỉnh Thanh Hóa thu giữ của H, qua điều tra xác định đây là tài sản cá nhân của H không liên quan đến hành vi phạm tội của H, do đó cần trả lại cho H.
Tại bản cáo trạng số 292/CT-VKS-MT ngày 31/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa đã truy tố Lê Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Mức hình phạt VKS đề nghị đối với bị cáo Lê Văn H từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Ngoài ra VKS còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, tuy tố, xét xử đã được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 09h45' ngày 29/8/2018 tại quốc lộ 45 trước cổng bệnh viện phổi Thanh Hóa, tổ công tác phòng PC04 công an tỉnh Thanh Hóa đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang Lê Văn H đang tàng trữ 01 gói ma túy có tổng khối lượng 0,324 (không phẩy ba hai tư gam) là ma túy, loại Methamphetamine.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của Lê Văn H có đủ các dấu hiệu cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tội danh và khung hình phạt được quy đinh tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như cáo trạng của VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng.
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hiện nay tệ nạn ma túy đang là hiểm họa cho toàn xã hội, là nguyên nhân làm suy thoái kinh tế, là một trong những tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của giống nòi. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có bố là người có công với cách mang và được nhà nước tặng thưởng huân chương chiến công hạng ba nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Căn cứ vào nhân thân và tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần áp dụng Điều 38 BLHS để cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.
Về xử lý vật chứng:
Toàn bộ số ma túy được niêm phong trong phong bì thư, hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự TP.Thanh Hoá là vật cấm lưu hành, nên cần áp dụng khoản 1, điểm a Khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu huỷ.
Đối với số tiền 120.000đ, 01 điện thoại di động Masstel đã qua sử dụng không phải là vật chứng của vụ án, nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho Lê Văn H.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Lê Văn H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạnh chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/8/2018.
Vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Ma túy đựng trong 01 phong bì niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, được đóng dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, có chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đăng, Đinh Thị Mai Thanh, Lê Minh Tiến, Nguyễn Phương Thảo.
- Trả lại cho Lê Văn H số tiền 120.000đ, 01 điện thoại di động Masstel đã qua sử dụng.
Hiện số vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 26/THA ngày 07/11/2018 giữa Công an thành phố Thanh Hóa với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.
Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.
Bị cáo phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sư.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSNDTPTH; - Công an TPTH; - TAND tỉnh Thanh Hóa - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Văn Hào |