- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và trnh chấp nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Võ Thụy Ngọc A đối với ông Huỳnh Đ về việc “Ly hôn và tranh chấp con chung”
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 17 Luật Phí và lệ phí
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
TỈNH QUẢNG NAM Bản án số: 321/2023/HNGĐ-ST Ngày13/9/2023 Về việc: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần Hội Đ xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trịnh Thị Thúy Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trần Phi Long
2/ Bà Lương Thị Kim Anh
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thúy Hằng –Thư ký Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vinh– Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 178/2023/TLST - HNGĐ, ngày 19/6/2023 về việc: “Ly hôn và tranh chấp con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28/8/2023 giữa:
1/ Nguyên đơn: Bà Võ Thụy Ngọc A – Sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn B, xã Điện Quang, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (có mặt)
2/ Bị đơn: Ông Huỳnh Đ – Sinh năm 1976; Địa chỉ:Thôn B, xã Điện Quang, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/6/2023 và các lời khai tiếp theo tại Tòa, nguyên đơn bà Võ Thụy Ngọc A trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Huỳnh Đ kết hôn vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Điện Quang, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông, bà kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được sự đồng ý của hai bên gia đình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Đ thường xuyên nhậu nhẹt về nhà đánh đập, đuổi bà A chạy quanh nhà, bà A đã bỏ về nhà cha mẹ ruột của bà để sống hơn 3 tháng nay. Bà không còn tình cảm với ông Đ nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Huỳnh Đ .
Về con chung: có 02 con chung Huỳnh Duy B, sinh ngày 28/02/2011 và Huỳnh Duy M, sinh ngày: 28/6/2012, hiện nay con đang sống với ông Huỳnh Đ, khi ly hôn bà A giao hai con cho ông Đ nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
Ngoài ra bà Võ Thụy Ngọc A không có ý kiến gì khác.
Tại bản tự khai ngày 17/07/2023 và tại Biên bản hòa giải ngày 16/8/2023, ông Huỳnh Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Võ Thụy Ngọc A kết hôn với nhau vào năm 2010 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Điện Quang, hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn ông, bà sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là chủ yếu là về tiền bạc, ông Đ đi làm về đưa tiền cho bà A cất giữ nhưng khi cần đến tiền thì không có, không rõ ràng chuyện tiền bạc, vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên nhiều khi ông Đ tức giận có chửi mắng, đuổi bà A. Tuy nhiên, ông Đ cho rằng mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức nghiêm trọng, ông còn thương vợ con nên ông không đồng ý ly hôn.
Về con chung: có 02 con chung Huỳnh Duy B, sinh ngày 28/02/2011 và Huỳnh Duy M, sinh ngày: 28/6/2012, hiện nay đang ở cùng ông Đ, nếu Tòa giải quyết cho ly hôn thì ông có nguyện vọng được nuôi hai con chung và không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tại phiên hòa giải lần 2 và tại phiên tòa ông Huỳnh Đ vắng mặt nên không có lời trình bày tiếp theo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân thủ pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký Tòa án tiến hành đúng các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật; Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật,bị đơn chưa nghiêm túc chấp hành các quy định pháp luật.
+ Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện, cho bà Võ Thụy Ngọc A được ly hôn với ông Huỳnh Đ; Về con chung: giao hai con Huỳnh Duy B, sinh ngày 28/02/2011 và Huỳnh Duy M, sinh ngày: 28/6/2012 cho ông Huỳnh Đ nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:Tại phiên tòa, bị đơn ông Huỳnh Đ vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thụy Ngọc A và ông Huỳnh Đ kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại chính quyền địa phương, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo bà A khai là do ông đồng ăn nhậu về nhà chửi bới, đánh đập, bà A đã bỏ về nhà cha mẹ ruột, không chung sống cùng ông Đ. Đối với ông Đ, mặc dù không đồng ý ly hôn nhưng ông thừa nhận vợ chồng mâu thuẫn về tiền bạc, ông nhậu về chửi mắng, đuổi bà A. Do đó, xét thấy bà A và ông Đ đến nay không còn chung sống với nhau, vợ chồng sống không tin tưởng nhau, cuộc sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho bà Võ Thụy Ngọc A được ly hôn với ông Huỳnh Đ .
Về con chung: Có 02 con chung Huỳnh Duy B, sinh ngày 28/02/2011 và Huỳnh Duy M, sinh ngày: 28/6/2012, con đang sống chung cùng với ông Đ, khi ly hôn ông Đ có nguyện vọng được nuôi hai con chung, bà A đồng ý giao hai con cho ông Đ nuôi dưỡng. Nguyện vọng của các con cũng mong muốn được ở cùng với ông Đ. Vì vậy, các bên đã thỏa thuận được việc giao con cho ông Đ nuôi dưỡng, việc thỏa thuận này cũng phù hợp với nguyện vọng của con nên căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, giao hai con chung cho ông Huỳnh Đ tiếp tục nuôi dưỡng, ông Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, 35, 147, Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 17 luật phí và lệ phí, Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Võ Thụy Ngọc A đối với ông Huỳnh Đ về việc “Ly hôn và tranh chấp con chung”
1. Về hôn nhân: Xử cho bà Võ Thụy Ngọc A được ly hôn với ông Huỳnh Đ .
2. Về con chung: Giao hai con Huỳnh Duy B, sinh ngày 28/02/2011 và Huỳnh Duy M, sinh ngày: 28/6/2012 cho ông Huỳnh Đ trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và đủ khả năng lao động. Ông Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Võ Thụy Ngọc A được quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn không ai được cản trở.
3. Về án phí: Bà Võ Thụy Ngọc A phải chịu 300.000 đồng án phí DSST nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000131 ngày 19/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Quảng Nam - VKSND thị xã Điện Bàn - Những người tham gia tố tụng - UBND xã Điện Quang - Thi hành án - Lưu hồ sơ, án văn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trịnh Thị Thúy Vân |