vanban.org

Bản án 321/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ quốc hội về việc thành lập TAND cấp tỉnh, TAND khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của TAND cấp tỉnh, TAND khu vực;

Xử : Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Hoàng L được quyền ly hôn với bà Nguyễn Thị H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ quốc hội về việc thành lập TAND cấp tỉnh, TAND khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của TAND cấp tỉnh, TAND khu vực;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Thành lập Tòa án nhân dân cấp…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 321/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13/8/2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Thảo Trân - Thẩm phán

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Hòa Bình

2. Bà Hồ Thị Lang

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu Hà - Toà án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Cẩm Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 0328/2025/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2025/QĐST – HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Ông Trần Hoàng L, sinh năm 1971, CCCD số xxxxxxxxxxxx. Địa chỉ: 43 Nguyễn Trung Trực, phường Bình Lợi Trung (Phường 5, quận Bình Thạnh cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975, Số ĐDCN 082175000516. Địa chỉ: 43 Nguyễn Trung Trực, phường Bình Lợi Trung (Phường 5, quận Bình Thạnh cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn – ông Trần Hoàng L trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị H tự nguyện tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh. Giấy chứng nhận kết hôn số 773/QH, quyển số 04 ngày 07/12/1995. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp dẫn đến vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Giữa ông và bà H không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau chăm lo phát triển kinh tế gia đình, bà H thường xuyên vắng nhà nhưng không cho ông biết là đi đâu nên tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn xảy ra trong thời gian dài, khả năng đoàn tụ tình cảm vợ chồng khó thành, mục đích của hôn nhân không đạt được. Để ổn định cuộc sống ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà H.

Về con chung: Ông Trần Hoàng L khai quá trình chung sống giữa ông và bà Nguyễn Thị H có 03 con chung tên Trần Nguyễn Ái H, sinh năm 1996, Trần Nguyễn Ái V, sinh năm 2002 và Trần Huy H, sinh năm 2007 (cả 03 đã thành niên và có khả năng lao động), không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Ông Trần Hoàng L khai do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông Trần Hoàng L khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Bị đơn bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nhưng bà H không đến Tòa tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Hoàng L, không có yêu cầu phản tố.

Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn ông Trần Hoàng L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Nguyễn Thị H vắng mặt, bà H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, bà Hạnh không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Hoàng L được quyền ly hôn với bà Nguyễn Thị H.

- Về quan hệ con chung: Ông Trần Hoàng L khai quá trình chung sống giữa ông và bà Nguyễn Thị H có 03 con chung tên Trần Nguyễn Ái H, sinh năm 1996, Trần Nguyễn Ái V, sinh năm 2002 và Trần Huy H, sinh năm 2007. Cả 03 con chung đều thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét.

- Về tài sản chung: Ông Trần Hoàng L và bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về nợ chung: Ông Trần Hoàng L và bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

\

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

1.1. Về quan hệ tranh chấp: Ông Trần Hoàng L có đơn khởi kiện tranh chấp ly hôn đối với bà Nguyễn Thị H. Đây là quan hệ tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

1.2. Về thẩm quyền của Tòa án: Bị đơn bà Nguyễn Thị H cư trú tại phường Bình Lợi Trung, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025, Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

1.3. Về tư cách tố tụng:

Nguyên đơn ông Trần Hoàng L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông L.

Bị đơn bà Nguyễn Thị H không có yêu cầu phản tố, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vẫn vắng mặt. Bà H không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hay vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà Hạnh.

. Về nội dung vụ án:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao) số 773/QH, quyển số 04 ngày 07/12/1995 do Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì quan hệ hôn nhân giữa ông Trần Hoàng L và bà Nguyễn Thị H là hợp pháp.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Ông Trần Hoàng L yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị H vì quá trình chung sống vợ chồng giữa ông và H phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến cả hai đã sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay nên việc hàn gắn đoàn tụ vợ chồng là khó thành, tình cảm vợ chồng giữa ông và bà H không còn, mục đích của cuộc hôn nhân không đạt được.

Xét thấy: Hôn nhân được duy trì do sự tự nguyện và trên cơ sở mục đích của hôn nhân phải đạt được,vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình để xây dựng gia đình hạnh phúc. Nguyên đơn ông Trần Hoàng L xác định tình cảm vợ chồng giữa ông và bà Nguyễn Thị H không còn, hôn nhân giữa ông và bà H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Bị đơn bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án nhưng không đến Tòa cũng như không có văn bản trình bày ý kiến về việc thực hiện các hoạt động nào để có thể hàn gắn, gắn bó tình cảm vợ chồng nhằm cải thiện tình cảm giữa bà với ông L. Điều đó cho thấy bà H không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân giữa bà với ông L.

Với nhận định như trên, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định rằng hôn nhân giữa ông Trần Hoàng L và bà Nguyễn Thị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, ông L yêu cầu ly hôn với bà H là có căn cứ theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận cũng như lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

2.2. Về phần con chung: Ông Trần Hoàng L khai quá trình chung sống giữa ông và bà Nguyễn Thị H có 03 con chung tên Trần Nguyễn Ái H, sinh năm 1996, Trần Nguyễn Ái V, sinh năm 2002 và Trần Huy H, sinh năm 2007. Cả 03 con chung đều thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2.3. Về phần tài sản chung:

Ông Trần Hoàng L khai do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2.4. Về phần nợ chung:

Ông Trần Hoàng L khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Ông Trần Hoàng L phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 232, Điều 266, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp và người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án;

Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ quốc hội về việc thành lập TAND cấp tỉnh, TAND khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của TAND cấp tỉnh, TAND khu vực;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử : Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Hoàng L được quyền ly hôn với bà Nguyễn Thị H.

2. Về quan hệ con chung: Có 03 con chung tên Trần Nguyễn Ái H, sinh năm 1996, Trần Nguyễn Ái V, sinh năm 2002 và Trần Huy H, sinh năm 2007. Cả 03 con chung đều thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung: Ông Trần Hoàng L và bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung: Ông Trần Hoàng L và bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng, ông Trần Hoàng L phải chịu được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0054887 ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh (Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh cũ).

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ