vanban.org

Bản án 321/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tố tụng: Căn cứ vào: Khoản 1 điều 28; Điểm a khoản 1 điều 35; Điểm a khoản 1 điều 39; Khoản 3 điều 228; Điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng sự xét xử vắng mặt anh Lê Văn H.

Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Lê Văn H. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con chung là cháu Lê Văn Gia H, sinh ngày 12/01/2017 và cháu Lê Minh K, sinh ngày 15/02/2019. Anh Lê Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoan Hiếu"
  • Tòa quyết gì? Về tố tụng: Căn cứ vào: Khoản 1 điều 28; Điểm a khoản 1 điều 35; Điểm a khoản 1 điều 39; Khoản 3 điều 228; Điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng sự xét xử vắng mặt anh Lê Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử ly hôn giữa anh chị; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình xử ly hôn giữa anh chị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HỆN T
TỈNH T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 321A/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 22 - 11- 2022
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T,TỈNH T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm

Ông Lê Đăng Thiện

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân. Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Hện T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Huy. Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 217/2022/TLST/HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2022 về việc: “ Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 27/2022/QĐHPT- HNGĐ ngày 03/11/2022 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H; Sinh năm 1991. Có mặt. 2. Bị đơn: Anh Lê Văn H; Sinh năm 1989. Vắng mặt. Cùng địa chỉ: Thôn T xã X, huyện T, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai và tại phiên tòa Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị H và anh Lê Văn H tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn vào ngày 03/11/2015 tại UBND xã X, huyện T, tỉnh T. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cãi lộn, bất đồng quan điểm và lối sống, không tôn trọng nhau. Tháng 7 năm 2022 thì mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng

1

khiến tình cảm vợ chồng phai nhạt. Vợ chồng đã cắt đứt mọi quan hệ tình cảm từ tháng 7/ 2022 đến nay. Nay chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lê Văn Gia H, sinh ngày 12/01/2017 và cháu Lê Minh K, sinh ngày 15/02/2019.

Nguyện vọng của chị H yêu cầu nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Tài sản chung của vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa bị đơn là anh Lê Văn H vắng mặt và tại bản tự khai ngày 22/8/2022 anh H trình bày:

Về hôn nhân: Anh H và chị H kết hôn do tự nguyện tìm hiểu. Kết hôn và tổ chức cưới theo phong tục tập quán, đăng ký kết hôn vào ngày 03/11/2015 tại UBND xã X, huyện T, tỉnh T. Sau khi kết hôn vợ chồng đi làm ăn tại Bình Dương, tình cảm vợ chồng hạnh phúc. Tháng 7/2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do làm ăn không thuận lợi, kết hợp nợ nần rồi tranh cãi. Anh H nhận thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn nhưng phía vợ đã hết tình cảm nên đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lê Văn Gia H, sinh ngày 12/01/2017 và cháu Lê Minh K, sinh ngày 15/02/2019.

Nguyện vọng của anh H yêu cầu nuôi con chung là cháu Lê Văn Gia H, sinh ngày 12/01/2017 còn cháu Lê Minh K, sinh ngày 15/02/2019 giao cho chị H nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung. Anh H có kê khai một số khoản nợ và làm Đơn yêu cầu về phần tài sản nhưng không nộp các tài liệu chứng cứ và có nguyện vọng để vợ chồng tự thỏa thuận.

Tại Biên bản xác minh anh Lê Văn H không có mặt tại địa phương, không rõ địa chỉ của anh Lê Văn H.

Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi HĐXX nghị án đều đúng quy định pháp luật. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 điều 51; Khoản 1 điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn thị H và anh Lê Văn H; Về con chung: Giao cả hai con chung là cháu Lê Văn Gia H, sinh ngày 12/01/2017 và cháu Lê Minh K, sinh ngày 15/02/2019 cho chị Nguyễn thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm

2

sóc, giáo dục. Anh Lê Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Về án phí dân sự: Các đương sự phải chịu án phí DSST theo quy định pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn; Bị đơn là anh Lê Văn H có địa chỉ: Thôn T xã X, huyện T, tỉnh T nên vụ án thuộc Thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Lê Văn H đã bỏ đi khỏi địa phương không rõ nơi cư trú. Tòa án đã giao các văn bản tố tụng cho anh Lê Văn H và tiến hành các thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của anh H. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 và vắng mặt. HĐXX căn cứ vào khoản 3 điều 228; Điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt Bị đơn. [2]. Về nội dung:

. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Lê Văn H là hôn nhân hợp pháp tại vì anh chị đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật. Quá trình chung sống trong khoảng thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 7/2022 đến nay, chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Anh H nhận thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn nhưng chị H đã hết tình cảm vợ chồng với anh nên anh H cũng đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, chị H yêu cầu ly hôn và anh H cũng đồng ý ly hôn nên HĐXX căn cứ vào khoản 1 điều 56, điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình xử ly hôn giữa anh chị là phù hợp.

. Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Lê Văn Gia H, sinh ngày 12/01/2017 và cháu Lê Minh K, sinh ngày 15/02/2019.

Xét yêu cầu về việc nuôi con chung của chị H thì HĐXX thấy rằng:

Hiện tại anh H đi làm ăn xa, không cư trú tại địa phương, không rõ địa chỉ nên HĐXX không thể giao con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục như nguyện vọng của anh H được. Qua xác minh tại địa phương thì hiện tại chị H đã đón cả 02 con chung về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và sinh sống cùng bố mẹ đẻ. Anh H vẫn đi làm ăn xa chưa về. Mặt khác chị H hiện tại có công việc ổn định, thu nhập bình quân từ 8.000.000đ đến 10.000.000đ nên đủ điều kiện nuôi con chung. HĐXX căn cứ điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia

3

đình giao cả hai con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

.Về tài sản chung của vợ chồng: Trong quá trình giải quyết vụ án anh H có kê khai vợ chồng vay nợ chung gồm: Vay của ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị T số tiền 450.000.000đ; Vay chú Nguyễn Duy H số tiền 100.000.000đ. Tòa án đã hướng dẫn anh H làm Đơn yêu cầu giải quyết và giao nộp các tài liệu chứng cứ. Tuy nhiên anh H có làm đơn đề nghị phần tài sản nhưng Nguyện vọng là để vợ chồng tự thỏa thuận. Anh H không cung cấp tài liệu chứng cứ liên quan đến các khoản nợ trên. Tòa án đã triệu tập anh H nhiều lần nhưng đều vắng mặt. Qua xác minh tại địa phương nơi cư trú thì anh H không có mặt tại địa phương. Vì vậy HĐXX không xem xét về khoản nợ chung.

. Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH.

[ 4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại điều 271 và khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Về tố tụng: Căn cứ vào: Khoản 1 điều 28; Điểm a khoản 1 điều 35; Điểm a khoản 1 điều 39; Khoản 3 điều 228; Điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng sự xét xử vắng mặt anh Lê Văn H.

Căn cứ vào khoản 1 điều 51; Khoản 1 điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Lê Văn H.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con chung là cháu Lê Văn Gia H, sinh ngày 12/01/2017 và cháu Lê Minh K, sinh ngày 15/02/2019. Anh Lê Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Lê Văn H được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 điều 24; Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH;

4

Buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ án phí DSST nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu số: AA/2021/0014351 ngày 28/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ điều 271 và khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Chị Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Văn H được quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ