vanban.org

Bản án 321/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 15/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Trần Quang S 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Trần Tế Xương, thành phố Nam Định giám sát, giáo dục. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tran quang s - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 321/2019/HSST
Ngày: 25-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Liên

Bà Trần Thị Thu

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 320/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 320/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Quang S; sinh ngày 23-12-2001 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: số 06/49/02 đường Cù Chính Lan, phường Trần Tế Xương, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Thanh Vũ và bà: Phạm Thị Thu H; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10-9-2019; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1972, nơi cư trú: số 06/49/02 đường Cù Chính Lan, phường Trần Tế Xương, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đinh Thị Thanh T - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nam Định; có mặt.

- Bị hại: Bà Hoàng Thị M; sinh năm 1947, nơi cư trú: số 06/153 đường Mạc Thị Bưởi, phường Quang Trung, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; đã chết.

Người đại diện hợp pháp của bà Hoàng Thị M: Chị Lưu Hoàng Y, sinh năm 1983, hộ khẩu thường trú: số 06/153 đường Mạc Thị Bưởi, phường Quang Trung, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (là con đẻ của bà M); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Quang S chưa có giấy phép lái xe hạng A1. Khoảng 14 giờ ngày 28-7-2019, Trần Quang S tự lấy chiếc xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 18B2 - 222.48 dung tích 98 cm3 thuộc sở hữu của bà Phạm Thị Thu H (là mẹ đẻ của S), điều khiển xe đến quán Internet tại số 100 đường Hưng Yên, thành phố Nam Định để chơi điện tử. Khoảng 18 giờ 50 phút cùng ngày, S không chơi nữa và lấy xe mô tô đi về. S đi trên đường Mạc Thị Bưởi thành phố Nam Định theo hướng từ đường Trần Thái Tông về đường Nguyễn Du thành phố Nam Định. Khi S đi đến ngã tư giữa đường Trường Chinh và đường Mạc Thị Bưởi, lúc này, đèn giao thông đang màu đỏ. S quan sát thấy có hai chiến sĩ Cảnh sát cơ động là anh Nguyễn Ngọc Huy và anh Đỗ Duy Hưng (hiện đang công tác tại phòng PK02 Công an tỉnh Nam Định) đi trên xe mô tô biển kiểm soát 18A1 - 000.70 đang dừng chờ đèn đỏ phía trước cùng chiều. Do sợ sẽ bị Cảnh sát Cơ động xử lý về hành vi không đội mũ bảo hiểm nên S điều khiển xe mô tô vượt đèn đỏ qua ngã tư hướng về phía ngã tư đường Nguyễn Du và đường Mạc Thị Bưởi, thành phố Nam Định. Khi vượt qua ngã tư đến đoạn đường Mạc Thị Bưởi qua Kho bạc nhà nước tỉnh Nam Định có lòng đường rộng 11,25 mét, giữa đường có dải sơn vàng đứt quãng chia thành 02 chiều đường riêng biệt, tầm nhìn không bị che khuất, đường có đèn cao áp chiếu S; S điều khiển xe đi theo chiều đường bên phải (chiều đường này rộng 5,85 mét) và cách mép đường bên phải khoảng 5 mét, với tốc độ khoảng 60km/h. Do mải quay mặt sang chiều đường bên trái nên S không quan sát phía trước. Khi đến đoạn trước cửa số nhà 163 Mạc Thị Bưởi, S quay lại nhìn chiều đường phía trước thì phát hiện bà Hoàng Thị M đang đứng cách S khoảng 1 mét ở đoạn gần giữa đường, tại chiều đường S đang đi (cách dải sơn đứt quãng khoảng 0,5 mét), mặt quay về hướng xe S đang đi đến. Do khoảng cách quá gần nên S không kịp xử lý nên đã điều khiển xe đâm thẳng vào Mười, bánh xe trước xô vào chân trái bà M, phần mặt nạ đầu xe va chạm với phần ngực trái bà M làm bà M ngã xuống đường, văng về phía trước; còn S và xe mô tô bị đổ ngã ra đường, trượt rê về phía trước khoảng 2 mét. Hậu quả: Bà M được đưa vào bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định cấp cứu rồi chuyển lên Bệnh viện Việt Đức – Hà Nội, nhưng do thương tích nặng nên đã tử vong vào ngày 29-7-2019.

Ngay sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã chủ trì cùng các ngành hữu quan tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện, khám nghiệm tử thi theo quy định của pháp luật.

S ngày 29-7-2019, Trần Quang S đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đầu thú và khai nhận nội dung sự việc như đã nêu trên.

Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 43/19/TT ngày 10/8/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh Nam Định kết luận: Nguyên nhân tử vong của bà Hoàng Thị M là: Đa chấn thương. Cơ chế hình thành vết thương: Đa chấn thương do cơ thể va đập với vật cứng không bằng phẳng gây thương tích dẫn đến tử vong.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, gia đình Trần Quang S đã đến thăm hỏi, bồi thường cho gia đình bà Hoàng Thị M số tiền là 40.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bà M đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho S.

Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát18B2–222.48 được xác định thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Phạm Thị Thu H, bà Hương không có lỗi trong việc để Trần Quang S điều khiển xe gây ra vụ tai nạn giao thông trên. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bà Hương; bà Hương đã nhận lại xe và không có đề nghị gì.

Bản Cáo trạng số 320/CT-VKSTPNĐ ngày 07 tháng 11 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Trần Quang S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quang S khai nhận đã có hành vi vi phạm Luật giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả làm bà Hoàng Thị M tử vong như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Quang S theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo Trần Quang S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.

Bà Đinh Thị Thanh T trình bày bào chữa cho bị cáo Trần Quang S: Bị cáo bị truy tố về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 91 của Bộ luật Hình sự, các tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại; tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo khó khăn thuộc diện hộ cận nghèo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51và Điều 54 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến bào chữa bổ sung.

Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh trụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Quang S và người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Khoảng 19 giờ ngày 28-7-2019 trên đường Mạc Thị Bưởi thành phố Nam Định, bị cáo Trần Quang S điều khiển xe mô tô dung tích trên 50 cm3 không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1, không chú ý quan sát đã vi phạm khoản 9, khoản 23 Điều 8, Luật giao thông đường bộ, điểm c khoản 8 Điều 5 Nghị định 46/2016/NĐ-CP ngày 26-5-2016 của Chính phủ; hậu quả đã xảy ra va chạm với bà Hoàng Thị M làm bà M tử vong. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự; không thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó, lỗi của bị cáo là lỗi vô ý do cẩu thả. Do đó, bị cáo Trần Quang S đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với tình tiết định khung là “Không có giấy phép lái xe theo quy định” quy định tại điểm a khoản 2 của Điều luật.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến an toàn giao thông, gây hậu quả làm chết 01 người. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo và gia đình đã bồi thường thiệt hại xong cho gia đình bị hại, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người chưa thành niên, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; do đó căn cứ quy định tại Điều 91, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Quang S đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng. Chị Lưu Hoàng Y là người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 18B2-222.48 thuộc quyền sở hữu của bà Phạm Thị Thu H; Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô cho bà Hương là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Trần Quang S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Trần Quang S 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Trần Tế Xương, thành phố Nam Định giám sát, giáo dục. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Án phí: Bị cáo Trần Quang S phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ