- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn V - phạm tội giết người (điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn V (C) 06 (sáu) năm tù về tội “Giết người”; 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt hai tội là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 15 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 321/2019/HS-PT Ngày: 29 - 10 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường
Các Thẩm phán:
Ông Trương Minh Tuấn
Ông Phạm Việt Cường
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thanh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Ông Lê Ra - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 311/2019/TLPT-HS ngày 11 tháng 9 năm 2019, do có kháng cáo của bị hại Lê Văn Q, Lê Thị Mỹ L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2019/HS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Bị cáo:
Nguyễn Tuấn V (C), sinh năm 1986 tại tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: Thôn N 1, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Nguyễn Văn L và con bà Phạm Thị Mỹ L; có vợ tên Nguyễn Thị Thu H và 01 con sinh năm 2017; tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 15/8/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử và xử phạt 01 năm tù về tội “Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp”;
Tạm giam ngày 12/9/2018 (trước đó đã tạm giam từ ngày 04/11/2014 đến ngày 19/5/2016 hủy bỏ biện pháp tạm giam) - Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn L và ông Trần Trọng H, Luật sư - Văn phòng Luật sư C, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk - Có mặt.
- Bị hại:
Anh Lê Văn Q, sinh năm 1977; nơi cứ trú: tỉnh Phú Yên - Có mặt.
Chị Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1980; nơi cứ trú: Thôn N 1, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên - Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn L; địa chỉ: tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
Anh Nguyễn Châu T; địa chỉ: tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.
Anh Nguyễn Văn M; địa chỉ: tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.
Người kháng cáo: Anh Lê Văn Q, chị Lê Thị Mỹ L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15/8/2014, anh Lê Văn Q điều khiển xe ô tô Santafe biển số 78A-013.10 đi trên đường M, thuộc thôn N 1, xã B, TP. T theo hướng Tây – Đông. Khi qua nhà ông Nguyễn Văn L thì xe ô tô của Q va quẹt vào anh Nguyễn Châu T (con ông L) làm xây xát nhẹ ở tay và chân anh T. Liền lúc đó ông L, bà Phạm Thị Mỹ L (mẹ anh T), anh Nguyễn Văn M (em của T) chạy ra đường M, bà L và anh M lại đỡ anh T; còn ông L đến nói với anh Q “mày ác lắm nghen Q, sao mày tông con tao”. Anh Q xuống xe cầm cổ áo ông L đánh một cái vào mặt; thấy vậy, Nguyễn Tuấn V (con ông L) từ trong nhà ông L chạy ra đến cửa ngõ nhà thì chị Lê Thị Mỹ L cũng vừa chạy đến ngăn cản không cho V đến chỗ anh Q và xông vào cào cấu làm đứt sợi dây chuyền trên cổ của V. V chạy vào nhà lấy 01 ống tuýt sắt dài 51cm, đường kính 2,7cm chạy ra đánh liên tiếp hai cái vào đầu của chị L gây thương tích, chị L bỏ chạy. V chạy đến chỗ anh Q, lúc này tay phải của anh Q cầm cổ áo ông L, tay trái đang kẹp cổ anh M kéo lùi về phía nhà của anh Lê Thanh B. V cầm ống tuýt sắt đứng đối diện với anh Q đánh liên tiếp nhiều cái từ trên xuống trúng 01 cái vào tay và 03 cái vào đầu của anh Q; anh Q thả ông L và anh M ra thì V đánh tiếp một cái nữa vào đầu anh Q, anh Q quay người chạy về hướng nhà của anh Lê Thanh B thì bị vấp ngã xuống vỉa hè trước cửa nhà anh B. V đuổi theo đánh tiếp từ trên xuống nhưng liền được anh B dùng bàn nhựa đỡ, làm vỡ bàn nên không trúng người của anh Q. Anh Bính tiếp tục can ngăn không cho V đánh anh Q và cùng vợ là chị Phạm Thị H đưa anh Q và chị L đi cấp cứu kịp thời tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Yên nên chưa gây ra hậu quả chết người.
Kết quả giám định thương tích số 247/TgT và 248/TgT ngày 01/10/2014 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Phú Yên mô tả và kết luận:
+ Thương tích của anh Lê Văn Q: Vùng đỉnh đầu để lại 3 vết sẹo, thái dương trái 01 vết sẹo, sưng nề cẳng tay phải hiện không còn; tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 44%.
+ Thương tích của chị Lê Thị Mỹ L: Vùng đỉnh đầu để lại 02 vết sẹo; tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 12%.
Quá trình điều tra, V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhưng không thừa nhận có ý thức nhằm tước đoạt tính mạng của bị hại; V và gia đình đã nộp khắc phục hậu quả được 40.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lê Văn Q yêu cầu bồi thường 626.593.497đ; bị hại chị Lê Thị Mỹ L yêu cầu bồi thường 50.639.871đ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2019/HS-ST ngày 01/8/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn V phạm tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Áp dụng khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 15; khoản 3 Điều 57; điểm b, e, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 55; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn V – 06 (sáu) năm tù về tội “Giết người”; 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt hai tội là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 102/2014/HSPT ngày 15/8/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn V 01 (một) năm tù về tội “Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp”; buộc bị cáo Nguyễn Tuấn V phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 12/9/2018; được trừ thời gian tạm giam từ ngày 04/11/2014 đến ngày 19/5/2016.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 584; Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc bị cáo Nguyễn Tuấn V bồi thường cho:
- Anh Lê Văn Q 74.533.652đ; đã bồi thường được 30.000.000đ, còn tiếp tục bồi thường 44.533.652đ.
- Chị Lê Thị Mỹ L 37.789.871đ; đã bồi thường được 10.000.000đ, còn tiếp tục bồi thường 27.789.871đ.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 16/8/2019, anh Lê Văn Q và chị Lê Thị Mỹ L kháng cáo với nội dung: Đề nghị tăng hình phạt, tăng mức bồi thường; xem xét bỏ lọt tội phạm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Anh Lê Văn Q và chị Lê Thị Mỹ L trình bày giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu quan điểm:
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Tuấn V về tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích” là đúng tội, đúng pháp luật. Kháng cáo của bị hại anh Lê Văn Q và chị Lê Thị Mỹ L đề nghị tăng hình phạt, tăng mức bồi thường; xem xét bỏ lọt tội phạm là không có căn cứ. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại anh Lê Văn Q và chị Lê Thị Mỹ L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày, bị cáo trình bày bổ sung thể hiện: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và xử phạt bị cáo về tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích” là đúng tội; bị cáo không kháng cáo. Kháng cáo của bị hại anh Lê Văn Q và chị Lê Thị Mỹ L là không có căn cứ. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Ngày 16/8/2019, anh Lê Văn Q và chị Lê Thị Mỹ L kháng cáo. Như vậy, kháng cáo của anh Qúy, chị L là trong thời hạn luật định, do vậy Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét kháng cáo của anh Lê Văn Q và chị Lê Thị Mỹ L:
Nội dung kháng cáo về tội danh và hình phạt:
Ngày 15/8/2014, trên đường M, thuộc thôn N 1, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên, anh Lê Văn Q chạy xe ô tô có va quẹt vào anh Nguyễn Châu T làm anh T bị xây xát nhẹ ở tay và chân. Từ đó, hai bên xảy ra cãi vã nhau. Nguyễn Tuấn V là em của anh T thấy vậy chạy đến thì bị Lê Thị Mỹ L ngăn cản, cào cấu làm đứt sợi dây chuyền trên cổ của V. V chạy vào nhà lấy một tuýt sắt và chạy đánh vào đầu chị Lê Thị Mỹ L và đánh vào tay, đầu anh Lê Văn Q. Hậu quả anh Qúy bị thương tích 44%, chị L bị thương tích 12%. Bị cáo Nguyễn Tuấn V có nhân thân xấu, ngày 15/8/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử về tội “Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp”; với mức hình phạt 01 năm tù.
Với hành vi phạm tội nêu trên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo được áp dụng một tình tiết tình tiết tăng nặng và ba tình tiết giảm nhẹ. Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2019/HSST ngày 01/8/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn V (C) phạm tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 và tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng tội. Xử phạt 06 năm tù về tội “Giết người” và 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” là thỏa đáng. Kháng cáo của anh Lê Văn Q và chị Lê Thị Mỹ L cho rằng mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là nhẹ. Hội đồng xét xử thấy rằng, mức án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là thỏa đáng, do vậy không chấp nhận kháng cáo anh Lê Văn Q và chị Lê Thị Mỹ L về việc tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Tuấn V.
Về nội dung kháng cáo bỏ lọt tội phạm:
Qúa trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Tuấn V khai nhận thương tích của anh Lê Văn Q và chị Lê Thị Mỹ L là do một mình bị cáo gây ra. Lời khai nhận này của bị cáo V phù hợp với lời khai của ông Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Châu T, anh Nguyễn Văn M trong quá trình điều tra, thể hiện: “Chỉ có bị cáo Nguyễn Tuấn V dùng tuýt sắt đánh gây thương tích cho anh Qúy, chị L”. Phù hợp với lời khai của người làm chứng Lê Thanh Bích trong quá trình điều tra, thể hiện: “Chỉ có bị cáo Nguyễn Tuấn V dùng tuýt sắt đánh và gây thương tích cho anh Qúy, chị L” (BL-134-136). Phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, cấp sơ thẩm nhận định, đánh giá ông Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Châu T, anh Nguyễn Văn M, bà Phạm Thị Mỹ L không tham gia cùng bị cáo V đánh gây thương tích cho anh Qúy, chị L là có căn cứ. Kháng cáo của anh Lê Văn Q và chị Lê Thị Mỹ L là không có căn cứ để chấp nhận.
Nội dung kháng cáo về trách nhiệm dân sự:
Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quy định của pháp luật, từ đó buộc bị cáo Nguyễn Tuấn V bồi thường cho anh Lê Văn Q tổng số tiền là 74.533.652đ và bồi thường cho chị Lê Thị Mỹ L tổng số tiên là 37.789.871đ bao gồm những khoản anh Qúy, chị L chi phí hợp lý là đúng pháp luật. Ngoài ra, cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Qúy, chị L về những khoản chi phí không hợp lý, mà chỉ chấp nhận một phần, như: Tiền công người chăm sóc người bệnh; tiền bồi dưỡng trong tthời gian người bệnh đi điều trị; tiền mất thu nhập; chi phí sửa xe... là có căn cứ. Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh Lê Văn Q và chị Lê Thị Mỹ L về yêu cầu tăng mức bồi thường.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, anh Lê Văn Q và chị Lê Thị Mỹ L không cung cấp chứng cứ nào mới để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ. Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của anh Lê Văn Q và chị Lê Thị Mỹ L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Tuấn V không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của anh Lê Văn Q và chị Lê Thị Mỹ L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2. Áp dụng khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 15; khoản 3 Điều 57; điểm b, e, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 55; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn V (C) 06 (sáu) năm tù về tội “Giết người”; 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt hai tội là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 102/2014/HSPT ngày 15/8/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn V 01 (một) năm tù về tội “Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp”; buộc bị cáo Nguyễn Tuấn V (C) phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 12/9/2018; được trừ thời gian tạm giam từ ngày 04/11/2014 đến ngày 19/5/2016.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 584; Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc bị cáo Nguyễn Tuấn V bồi thường:
- Cho anh Lê Văn Q số tiền 74.533.652đ; đã bồi thường được 30.000.000đ, còn tiếp tục bồi thường 44.533.652đ.
- Cho chị Lê Thị Mỹ L số tiền 37.789.871đ; đã bồi thường được 10.000.000đ, còn tiếp tục bồi thường 27.789.871đ.
Số tiền 40.000.000đ bị cáo Nguyễn Tuấn V đã nộp thể hiện tại biên lai thu số AA/2010/08995 ngày 29/6/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Phú Yên; giấy nộp tiền vào tài khoản 394909040469 ngày 16/9/2018, ngày 19/9/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Yên mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Phú Yên (BL-466, 890, 891).
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Tuấn V không phải chịu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Thành viên Hội đồng xét xử
| Trương Minh Tuấn Phạm Việt Cường | Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Trần Quốc Cường |