vanban.org

Bản án 320/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 24/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố Phạm Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Đào Thị H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: 1/ Xử phạt Phạm Văn H 05 (lăm) năm 06 (sáu) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 05/9/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Đào Thị H1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bá…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố Phạm Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Đào Thị H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀNG M
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

------------
Bản án số: 320/2024/HS-ST
Ngày: 24/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu H

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị M

Bà Tạ Thị Th

Thư ký phiên toà: Bà Vi Thanh H – Thư ký Toà án nhân quận Hoàng M, Thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng M tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Th, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng M, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 338/2024/TLST-HS ngày 29/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 328/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Phạm Văn H –Sinh năm 1983, tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký thường trú: thôn Chợ Đập, xã An Bình, huyện L, tỉnh H; Chỗ ở: không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Ch (đã chết) và bà Lê Thị L (đã chết); vợ Đinh Thị D (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2004; Tiền án: Ngày 30/8/2007, tại bản án số 82/2007/HSST, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 48 tháng về tội "Mua bán trái phép vật liệu nổ" . Ngày 24/11/2011, Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 36 tháng tù tại bản án số 82/2007/HSST ngày 30/8/2007 thành hình phạt chung là 45 tháng tù (chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/4/2014, chưa xóa án tích). Ngày 04/12/2014, tại bản án số 37/2014/HSST, Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tiỉnh Thanh Hóa xử phạt 27 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 19/12/2014, tại bản án số 46/2014/HSST, Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt bản án số 37/2014/HSST và số 46/2014/HSST buộc chấp hành hình phạt chung là 69 tháng tù (chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/9/2020, chưa nộp tiền truy thu sung quỹ Nhà nước, án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm tại hai bản án- chưa xóa án tích) (Theo Danh chỉ bản số 414 do công an quận Hoàng M lập ngày 14/9/2024); Bị cáo bị tạm giữ ngày 05/9/2024, tạm giam ngày 14/9/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Đào Thị H1–Sinh năm 1983, tại Bắc Ninh; Nơi đăng ký thường trú: phố Nghi Khúc, phường An Bình, thị xã T, tỉnh B; Chỗ ở: số 5 ngách 1227/80 đường Giải Phóng, phường T, quận Hoàng M, Thành phố H; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Văn H và bà Nguyễn Thị K; là con thứ tư trong gia đình có 07 anh chị em; Chồng con: không có; Tiền án, tiền sự: không. Về nhân thân: Ngày 19/10/2006, Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh H (nay là quận H, Thành phố H) xử phạt 04 năm tù về tội “Môi giới mại dâm” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/01/2009, đã xóa án tích) (Theo Danh chỉ bản số 415 do công an quận Hoàng M lập ngày 14/9/2024); Bị cáo bị tạm giữ ngày 05/9/2024, tạm giam ngày 14/9/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 05/9/2024, tại khu vực ngõ 88 Giáp Nhị, phường T, quận Hoàng M, Thành phố H, tổ công tác đội CSĐTTP về ma túy- công an quận Hoàng Mai phát hiện bắt quả tang Phạm Văn H có hành vi cất giấu ma túy tại một nhỏ ở khóa quần phía trước H đang mặc. H khai nhận số ma túy trên là Heroine H mua về sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: 01 lớp băng dính màu đen kích thước 2x2cm bên trong chứa 03 gói bọc nilong màu đen kích thước mỗi gói 1x1cm, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng, không lắp sim số.

Tại bản kết luận giám định số 6525/KL-KTHS ngày 14/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 03 gói giấy màu trắng (bên ngoài mỗi gói bọc bằng nilong màu đen) đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,188 gam.

Phạm Văn H khai nhận: H và Đào Thị H1 có quen biết nhau từ trước. H là đối tượng nghiện ma túy nên khoảng 11 giờ 45 phút ngày 05/9/2024, H đi lang thang trên đường và mượn điện thoại của người đi đường gọi đến số điện thoại 0395583906 của H1 hỏi mua 03 gói ma túy Heroine, H1 đồng ý và báo giá 450.000 đồng/03 gói ma túy. H1 hẹn H giao ma túy tại khu vực nghĩa trang đường T, quận Hoàng M, Thành phố H. Sau khi mua được ma túy H nhét số ma túy vào trong lỗ nhỏ khóa quần phía trước H đang mặc thì bị phát hiện bắt quả tang.

Tại cơ quan điều tra Đào Thị H1 khai nhận: H1 là đối tượng nghiện ma túy, không có công việc làm ổn định. Khoảng 05 giờ ngày 05/9/2024, H1 đi đến khu vực đường Ngọc Hồi trước cổng chùa Tứ Kỳ thuộc phường H, quận Hoàng M, Thành phố H để tìm mua ma túy mục đích bán lại cho các con nghiện để kiếm lời. Tại đây, H1 hỏi và mua của một người đàn ông không quen biết 03 gói ma túy Heroine với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy H1 mang về phòng trọ tại địa chỉ số 5 ngách 1277/80 đường Giải Phóng, phường T, quận Hoàng M, Thành phố H cất giấu để khi có người hỏi thì bán với giá 150.000 đồng/01 gói. Khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày có số điện thoại gọi đến số 0395583906 của H1 xưng là H và hỏi mua 03 gói ma túy Heroine, H1 đồng ý bán cho H 03 gói ma túy Heroine với giá 450.000 đồng và hẹn giao ma túy tại khu vực nghĩa trang đường T, quận Hoàng M, thành phố H Sau đó, H1 quấn băng dính đen 03 gói ma túy với nhau rồi cầm ở tay trái một mình đạp xe đạp đi giao ma túy cho H. Sau khi giao ma túy cho H xong, H1 đạp xe về phòng trọ.

Thu giữ của Đào Thị H1: 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung màu vàng lắp sim số 0395583906; số tiền 600.000 đồng; 01 xe đạp màu vàng – nâu nhãn hiệu Arubic đã qua sử dụng

Qua khám xét chỗ ở của Đào Thị H1 tại số 5 ngách 1277/80 đường Giải Phóng, phường T, quận Hoàng M, Thành phố H không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại bản cáo trạng số 323/CT-VKS-HM ngày 28/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng M truy tố Phạm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm 0 khoản 2 Điều 249- Bộ luật Hình sự năm 2015; Đào Thị H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251- Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà:

*Các bị cáo Phạm Văn H, Đào Thị H1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai đã truy tố, ăn năn, hối cải đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng M giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

-Áp dụng điểm 0 khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38- Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Phạm Văn H, đề nghị xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38- Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Đào Thị H1, đề nghị xử phạt bị cáo từ 28 đến 32 tháng tù.

-Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

-Về vật chứng:

+Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín bên trong là ma túy Heroin đã thu giữ của Phạm Văn H còn lại sau giám định

+Tịch thu phát mại, sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung màu vàng đã qua sử dụng lắp sim số 0395583906; 01 xe đạp màu vàng – nâu nhãn hiệu Arubic đã qua sử dụng.

+Tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 450.000 đồng.

+Trả lại cho Đào Thị H1 số tiền 150.000 đồng; trả lại cho Phạm Văn H 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: khoảng 11 giờ 45 phút ngày 05/9/2024 tại khu vực nghĩa trang phường T, quận Hoàng M, Thành phố H, Đào Thị H1 có hành vi bán 03 gói ma túy Heroin, khối lượng 0,188 gam cho Phạm Văn H với giá 450.000 đồng. Phạm Văn H sau khi mua được 03 gói ma túy Heroine cất giấu tại lỗ nhỏ ở khóa quần phía trước, mục đích để sử dụng cho bản thân, tuy nhiên chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định hành vi của Đào Thị H1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251- Bộ luật hình sự. Phạm Văn H các bản án xét xử trước thể hiện bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”. Do đó, hành vi phạm tội của Phạm Văn H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm 0 khoản 2 Điều 249- Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng M truy tố các bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Phạm Văn H, Đào Thị H1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự. Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Từ những nhận định trên, xét thấy các bị cáo đều có nhân thân xấu, đã bị kết án về các hành vi phạm tội tuy nhiên không chịu tu dưỡng, sửa chữa sai lầm. Xét tính chất hành vi của các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Đào Thị H1 ngày 05/9/2024 tại khu vực đường Ngọc Hồi trước cổng chùa Tứ Kỳ, phường H, quận Hoàng M, Thành phố H: H1 khai không biết tên tuổi, địa chỉ của người đàn ông trên. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa làm rõ nhân thân lý lịch của đối tượng, khi nào xác minh, làm rõ sẽ tiến hành xử lý sau.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7]Về xử lý vật chứng:

+ 01 phong bì niêm phong dán kín bên trong là ma túy Heroin đã thu giữ của Phạm Văn H còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

+ 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung màu vàng đã qua sử dụng lắp sim số 0395583906 và 01 xe đạp màu vàng – nâu nhãn hiệu Arubic đã qua sử dụng là phương tiện H1 sử dụng giao dịch bán ma túy cho H nên cần tịch thu phát mại, sung quỹ Nhà nước.

+ Tổng số tiền 600.000 đồng thu giữ của Đào Thị H1 trong đó có 450.000 đồng là tiền H1 bán ma túy cho H nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Số tiền 150.000 đồng là tiền của H1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho H1.

+ 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng của Phạm Văn H không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho H.

[8]Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 - Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[9]Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333- Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm 0 khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38- Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với Phạm Văn H.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38- Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với Đào Thị H1.

1. Về tội danh: Tuyên bố Phạm Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Đào Thị H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1/ Xử phạt Phạm Văn H 05 (lăm) năm 06 (sáu) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 05/9/2024.

2.2/ Xử phạt Đào Thị H1 30 (ba mươi) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 05/9/2024.

3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47- Bộ luật hình sự; Điều 106- Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:

+Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy Heroin đã thu giữ của Phạm Văn H còn lại sau khi giám định (thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 04/12/2024).

+ Tịch thu, phát mại, sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung màu vàng đã qua sử dụng lắp sim số 0395583906 và 01 xe đạp màu vàng – nâu nhãn hiệu Arubic đã qua sử dụng (thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 04/12/2024).

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 450.000 đồng (thể hiện tại Giấy nộp tiền ngày 21/11/2024)

+ Trả lại cho Đào Thị H1 số tiền 150.000 đồng (thể hiện tại Giấy nộp tiền ngày 21/11/2024)

+ Trả lại cho Phạm Văn H 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng (thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 04/12/2024).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 - Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Phạm Văn H và Đào Thị H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333- Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:

Các bị cáo Phạm Văn H và Đào Thị H1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

6.Về việc thi hành án: Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định của tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ