- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Tấn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Tấn L. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 320/2019/HS-PT Ngày: 22-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn Anh
Ông Ngô Tấn Lợi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Hóa - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 276/2019/TLPT-HS ngày 30 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo Trần Tấn L do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 77/2019/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố C.
- Bị cáo có kháng cáo: Trần Tấn L, sinh năm 1983 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Tổ 59, Khóm 5, Phường 11, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Trần Văn Th và bà Lê Thị B; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bắt tạm giữ ngày 04/5/2019; tạm giam ngày 10/5/2019; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp(Có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ, ngày 04 tháng 5 năm 2019 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Trần Tấn L sử dụng điện thoại sim số 0937.202.270 gọi cho người tên Nh (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) hỏi mua một bịch ma túy với số tiền 500.000 đồng. Nh đồng ý bán và hẹn giao dịch tại quán nước giải khát không tên ở huyện TB. Sau đó, L một mình điều khiển xe mô tô, hiệu DRAGON, biển số 51Y4-24xx đến điểm hẹn. Sau khi đến nơi gặp Nh, L trực tiếp đưa cho Nh số tiền 500.000 đồng, Nh nhận tiền và đưa lại cho L 01 bịch ma túy. Sau khi mua được ma túy, L điều khiển xe về nhà, lấy số ma túy mua được giấu trong 01 khẩu trang màu trắng xám, rồi để trong túi quần Jean phía trước, bên phải đang mặc và một mình điều khiển xe, biển số 51Y4-2463 ra ngoài tìm bạn sử dụng. Khi điều khiển xe trên Quốc lộ 30 đến địa phận thuộc Tổ 1, Khóm 1, Phường 11, thành phố C thì bị Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Đồng Tháp phối hợp cùng với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy
- Công an thành phố C và Công an Phường 11 kiểm tra phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang lúc 11 giờ 30 phút cùng ngày, thu giữ nhiều tang vật của L.
Thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Tấn L tại Số 51, Tổ 59, Khóm 5, Phường 11, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Kết luận giám định số 355/KL-KTHS, ngày 05 tháng 5 năm 2019 của Phòng K thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong một bịch nylon màu trắng hàn kín, được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu Niêm phong số 01 gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,379 gam, loại Methamphetamine.
Kiểm tra tình trạng nghiện của L dương tính với ma túy Methamphetamine.
Trong quá trình điều tra, L thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định k thuật hình sự, biên bản xét nghiệm tình trạng nghiện ma túy.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 77/2019/HS-ST ngày 24/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố C đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Tấn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
p dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Trần Tấn L 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 04/5/2019.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 09 tháng 10 năm 2019, bị cáo Trần Tấn L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Trần Tấn L bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Xét mức hình phạt 01 năm tù đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cung cấp đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, tình tiết này không phải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Tấn L, giữ nguyên phần Quyết định của án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Tấn L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định số 355/KL – KTHS ngày 05/5/2019 của phòng K thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, vật chứng và các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Sau khi mua ma túy của một người tên Nhân (không rõ lai lịch), bị cáo Trần Tấn L cất số ma túy vừa mua vào trong túi quần jean phía trước bên phải. Sau đó, bị cáo điều khiển xe tìm bạn cùng sử dụng ma túy. Khi bị cáo đang điều khiển xe trên Quốc lộ 30 thuộc địa phận Tổ 1, Khóm 1, Phường 11, thành phố C thì bị Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy – Công an tỉnh Đồng Tháp phối hợp cùng với Công an thành phố C và Công an Phường 11 kiểm tra, lập biên bản phạm tội quả tang thu giữ trên người bị cáo 01 bịch nylon màu trắng bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng. Kết luận giám định xác định các tinh thể rắn thu giữ là chất ma túy, có khối lượng là 0,379 gam, loại Methamphetamin.
Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác như: trộm cắp, cướp giật, … làm gia tăng tệ nạn nghiện ngập ma túy trong xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, động cơ mục đích phạm tội là để tư lợi cá nhân, nhằm thỏa mãn cơn nghiện.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Tấn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và đã cân nhắc, xem xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo cũng như tình trạng bệnh của bị cáo để tuyên phạt bị cáo ở mức đầu của khung hình phạt. Bị cáo L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và có cung cấp đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhưng đây không được xem là tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo cần thiết áp dụng hình phạt tù như án sơ thẩm đã tuyên mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận phần kháng cáo của bị cáo Trần Tấn L, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Nam là có căn cứ và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Do kháng cáo của bị cáo L không được chấp nhận nên bị cáo L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Tấn L. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Tấn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy .
Xử phạt bị cáo Trần Tấn L 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2019.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Bị cáo Trần Tấn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TANDTC – Vụ Giám đốc kiểm tra 1; - Ban Nội chính Tỉnh ủy: - Sở Tư pháp Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh; - Trại tạm giam Công an Tỉnh; - TA-VKS-THADS TP. C; - CQCSĐT Công an TP. C; - Bị cáo; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng KTNV-THA.TA Tỉnh; - Lưu: VT, HSVA (Trúc). | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Khắc Thịnh |