- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Huy V - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Vũ Huy V, Dương Văn T và Phan Đức Đ - Sửa bản án sơ thẩm số: 47/2018/HSST ngày 24/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 320/2018/HSPT Ngày: 11/10/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- T phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Văn Toàn
Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Tấn Đức
2. Ông Trần Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đình Nam - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 290/2018/HSPT, ngày 04-9-2018 đối với bị cáo Vũ Huy V, Dương Văn T và Phan Đức Đ về tội “Đánh bạc”, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2018/HSST ngày 24-7-2018 của Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Vũ Huy V; Sinh năm: 1985 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn X, xã Y, huyện Z, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Thế H, sinh năm: 1953 và con bà Phan Thị N, sinh năm 1955; Bị cáo có vợ Lê Thị Thuý N, sinh năm: 1987 và có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/01/2018 đến ngày 24/01/2018, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
2. Dương Văn T; Sinh năm: 1995 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn X, xã Y, huyện Z, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương T, sinh năm: 1963 và con bà Phan Thị M, sinh năm 1960; Bị cáo có vợ Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1995 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/01/2018 đến ngày 24/01/2018, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
3. Phan Đức Đ; sinh năm: 1980 tại Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn X, xã Y, huyện Z, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan T (Đã chết) và con bà Phan Thị N, sinh năm 1938; Bị cáo có vợ Huỳnh Thị B, sinh năm 1976 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/01/2018 đến ngày 24/01/2018, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Vũ Huy V: Bà Nguyễn Thị X. Trợ giúp viên pháp lý - Thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Đình H, Nguyễn Văn K nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 18/01/2018, Vũ Huy V đi đám cưới về thì thấy một số người đang tụ tập đánh bạc với hình thức xóc đĩa, thắng thua bằng tiền ở trước nhà V bị bà Phan Thị N (Mẹ V) đuổi đi. Khi thấy V về, những người này hỏi xin V cho họ chơi ở khu đất trống phía trước nhà, V đồng ý và yêu cầu những người chơi phải đóng tiền xâu cho V, mọi người đồng ý nộp và V đã thu được 290.000 đồng, số tiền này V đã sử dụng để đánh bạc cùng mọi người. Đến khoảng 13 giờ 30 phút, Nguyễn Đình H, Nguyễn Văn K và Phan Đức Đ cùng đi đám cưới về qua thấy đánh bạc nên vào tham gia chơi. Lúc này, thấy H vào thì người đang cầm cái xóc đĩa (không rõ nhân thân lai lịch) không chơi nữa và nói H “Xóc đi” thì H vào cầm cái xóc cho nhiều con bạc chơi và đặt mỗi ván thấp nhất là 10.000 đồng và cao nhất là 200.000 đồng.
Hình thức đánh bạc: Người chơi sử dụng 04 con vị hình tròn được cắt từ cây bài tây (lơ khơ), mỗi con vị có đường kính 2cm (một bên mặt trắng và 01 bên mặt xanh). Khi chơi thì tất cả 04 con vị được để vào 01 cái đĩa rồi lấy 01 cái chén (bát) úp lên, sau đó người cầm cái xóc đĩa và các con bạc đặt tiền xuống chiếu bạc ở bên chẵn hoặc bên lẻ. Chẵn là bên phải người cầm cái và lẻ là bên trái người cầm cái. Sau đó, người cầm cái mở chén và căn cứ vào kết quả con vị để tính thắng thua với các con bạc, nếu 4 con vị đều mặt trắng hoặc 04 con vị đều mặt xanh hoặc 02 con vị mặt trắng, 02 con vị mặt xanh là chẵn, nếu 03 con vị mặt trắng, 01 con vị mặt xanh hoặc 03 con vị mặt xanh, 01 con vị mặt trắng là lẻ. Nếu kết quả là chẵn thì con bạc đặt tiền ở bên chẵn thắng và con bạc đặt tiền ở bên lẻ thua. Nếu kết quả là lẻ thì con bạc đặt tiền ở bên lẻ thắng và con bạc đặt tiền ở bên chẵn thua. Tỉ lệ thắng thua là 1:1. Căn cứ kết quả xóc đĩa và số tiền đặt trên chiếu bạc mà người cầm cái sẽ tính số tiền thắng - thua với các con bạc. Đến khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, khi Nguyễn Đình H, Vũ Huy V, Dương Văn T, Nguyễn Văn K và Phan Đức Đ cùng một số người (chưa xác định được nhân thân lai lịch) đang đánh bạc thì Công an huyện Krông Pắc, bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ trên chiếu bạc 7.950.000 đồng, 01 cái chiếu nhựa, kích thước 160cm x 200cm, 01 cái chén bằng sứ đường kính 12,5cm, 01 cái đĩa bằng sứ đường kính 17,5cm, 04 con vị làm bằng lá bài tây. Thu giữ trên người Nguyễn Văn K số tiền 95.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định, khi đi đánh bạc Nguyễn Đình H mang theo 75.000 đồng, tính đến thời điểm bị bắt H đang thắng được 15.000 đồng. Vũ Huy V sử dụng 290.000 đồng để đánh bạc, tính đến thời điểm bị bắt V đã thua hết số tiền trên. Dương Văn T mang theo 200.000 đồng để đánh bạc, tính đến thời điểm bị bắt, T thua 150.000 đồng, còn lại 50.000 đồng. Nguyễn Văn K mang theo 95.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang K không thắng, không thua. Phan Đức Đ mang theo 500.000 đồng để đánh bạc, tính đến thời điểm bị bắt, Đào thắng 500.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2018/HSST ngày 24-7-2018 của Toà án nhân dân huyện Krông Pắc đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Huy V, Dương Văn T, Phan Đức Đ phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đối với các bị cáo Phan Đức Đ, Vũ Huy V, Dương Văn T;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 21/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Xử phạt các bị cáo:
- Bị cáo Phan Đức Đ 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/01/2018 đến ngày 24/01/2018.
- Bị cáo Vũ Huy V 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/01/2018 đến ngày 24/01/2018.
- Bị cáo Dương Văn T 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/01/2018 đến ngày 24/01/2018.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phạt đối với Nguyễn Đình H và Nguyễn Văn K, quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 01-8-2018 và 02-8-2018, các bị cáo Vũ Huy V, Phan Đức Đ và Dương Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Vũ Huy V, Phan Đức Đ và Dương Văn T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản cáo trạng, bản án hình sự sơ thẩm và các bị cáo xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và cho rằng cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Vũ Huy V, Phan Đức Đ và Dương Văn T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội là có phần nghiêm khắc với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Bởi các bị cáo đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt và nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Vũ Huy V, Phan Đức Đ và Dương Văn T, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo;
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt các bị cáo:
- Bị cáo Phan Đức Đ 08 (Tám) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Bị cáo Vũ Huy V 07 (Bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Bị cáo Dương Văn T 07(Bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Vũ Huy V trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ pháp lý. Mức hình phạt 07 (bảy) tháng tù mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là nghiêm khắc, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt và nơi cư trú ổn định, rõ ràng và bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thuộc diện hộ nghèo; hành vi phạm tội của bị cáo với vai trò thấp hơn bị cáo H, K nhưng cấp sơ thẩm xét xử mức án cao hơn và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là chưa tương xứng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Huy V; căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo Vũ Huy V được hưởng án treo.
Các bị cáo Vũ Huy V, Phan Đức Đ và Dương Văn T không có ý kiến tranh luận bào chữa gì. Các bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và của các bị cáo tại phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai của các bị cáo Vũ Huy V, Phan Đức Đ và Dương Văn T tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 13 giờ 40 phút ngày 18/01/2018 tại khu đất trống phía trước sân nhà bà Phan Thị N ở Thôn X, xã Y, huyện Z, tỉnh Đắk Lắk, Vũ Huy V, Nguyễn Đình H, Dương Văn T, Nguyễn Văn K, Phan Đức Đ và một số người khác (chưa rõ nhân thân lai lịch) đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa thắng thua bằng tiền thì bị lực lượng Công an huyện Krông Pắc phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 7.950.000 đồng. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Đình H, Vũ Huy V, Dương Văn T, Nguyễn Văn K và Phan Đức Đ về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), là có căn cứ.
Xét kháng cáo của các bị cáo Vũ Huy V, Dương Văn T và Phan Đức Đ, Hội đồng xét xử xét thấy: Mức hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Phan Đức Đ 08 tháng tù, các bị cáo Vũ Huy V, Dương Văn T mỗi bị cáo 07 tháng tù và buộc cách ly các bị cáo với xã hội là có phần nghiêm khắc khắc so với nhân thân và hành vi của các bị cáo gây ra, các bị cáo đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt và nơi cư trú ổn định rõ ràng. Do đó, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao các bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng để cải tạo các bị cáo và phòng chống tội phạm nói chung. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 47/2018/HSST ngày 24/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án phí: Do kháng cáo của các bị cáo Vũ Huy V, Dương Văn T và Phan Đức Đ được chấp nhận, nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; khoản e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
[1] Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Vũ Huy V, Dương Văn T và Phan Đức Đ - Sửa bản án sơ thẩm số: 47/2018/HSST ngày 24/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Phan Đức Đ 08 (Tám) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Huy V 07 (Bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Xử phạt: Bị cáo Dương Văn T 07 (Bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao các bị cáo Vũ Huy V, Dương Văn T và Phan Đức Đ cho Ủy ban nhân dân xã Hòa An, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk, nơi các bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, các bị cáo Vũ Huy V, Dương Văn T và Phan Đức Đ nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Về án phí: Các bị cáo Vũ Huy V, Dương Văn T và Phan Đức Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk; - Phòng CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện Krông Pắc; - VKSND huyện Krông Pắc; - Công an huyện Krông Pắc; - Chi cục THADS huyện Z; - T.H.A hình sự Công an huyện Krông Pắc; - UBND xã Y, huyện Z; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trịnh Văn Toàn |