vanban.org

Bản án 32

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Trần Đình V 17 (mười bảy) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bao gói sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội được niêm phong theo quy định của pháp luật (bên trong đựng ma túy đã niêm phong sau giám định). Tich thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu đen lắp số thuê bao 0982.965.914. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Đình V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Đình V 17 (mười bảy) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
Tßa ¸n nh©n d©n
HuyÖn §an Ph îng
thµnh phè Hµ néi

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 32/2019/HS -ST
Ngµy 23 - 5 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồ.

Bà Nguyễn Thị Chiều.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2019/TLST - HS ngày 25 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2019/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Đình V, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn 8, xã C, huyện H, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình T và bà Nguyễn Thị T; có vợ và 02 con lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; tiền sự: không; tiền án: Ngày 02/6/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội xử phạt 20 tháng tù về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có", theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt ngày 21/7/2018; nhân thân: Ngày 12/5/2010 bị Công an huyện Đan Phượng, Hà Nội xử phạt hành chính 300.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 23/6/2016 bị Công an phường Khương Trung, quận Thanh Xuân, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 11/11/2011, bị TAND huyện Hoài Đức, Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, ngày 15/5/2012 chấp hành xong hình phạt; Ngày 28/02/2013, bị TAND huyện Hoài Đức, Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 18/5/2014 chấp hành xong hình phạt; danh chỉ bản số 039 lập ngày 13/01/2019 của Công an huyện Đan Phượng; tạm giữ ngày 05/01/2019; tạm tha ngày 11/01/2019; có mặt.

+ Ng êi có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1990; nơi cư trú: Đội1, xã C, huyện H, Thành phố Hà Nội; có mÆt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ 30 ngày 05/01/2019, Trần Đình V điều khiển xe mô tô, Yamaha Exciter màu xanh, không biển kiểm soát đi đến khu vực Trường mầm non xã Tân Hội thuộc Cụm 4, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, V gặp và mua của một người nam giới khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ 01 gói Methamphetamine được bọc bằng giấy bạc bên trong có túi nilong màu trắng kích thước khoảng 01 x 02 cm với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, V cầm ma túy ở tay phải rồi điều khiển xe về để sử dụng, khi đi đến khu vực trước cửa nhà số 102, đường Phan Xích, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội thì bị lực lượng Công an kiểm tra, biết không giấu được ma túy nên V tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an số ma túy nêu trên.Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) gói giấy trắng bạc bên trong có 01 túi nilong màu trắng kích thước khoảng 01 x 02cm bên trong chứa tinh thể màu trắng trong (Việt khai là ma túy tổng hợp dạng đá); 01 xe mô tô Yamaha Exciter không biển kiểm soát, số khung RLCE55P10BY003820, số máy 55P-003820; 01 điện thoại di động Nokia màu đen lắp số thuê bao 0982.965.914.

Tại kết luật giám định số 359/KLGĐ-PC09 ngày 13/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,284 gam

Bản cáo trạng số 32/CT- VKSH. ĐP ngày 24/4/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo Trần Đình V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự;

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Trần Đình V đủ yếu tố cấu thành tội phạm như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Đình

- 2 -

V từ 17 tháng đến 21 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Vụ án xảy ra trên địa phận xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, nên việc khởi tố, truy tố và xét xử được các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành, nội dung các quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

. Về nội dung: Do nghiện chất ma tuý nên khoảng 15 giờ 30 ngày 05/01/2019 Trần Đình V đi đến khu vực Trường mầm non xã Tân Hội thuộc Cụm 4, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội mua của một thanh niên không quen biết 01 gói Methamphetamine được bọc bằng giấy bạc bên trong có túi nilong màu trắng kích thước khoảng 01 x 02 cm với giá 300.000 đồng mục đích về để sử dụng. Khi đi đến khu vực trước cửa nhà số 102, đường Phan Xích, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội thì bị lực lượng Công an huyện Đan Phượng kiểm tra thu giữ 01 gói ma túy nêu trên, với kết quả giám định 01 túi nilong là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,284 gam, thì hành vi cất giữ bất hợp pháp chất ma túy của Trần Đình V đã phạm vào tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo theo tội danh và viện dẫn điều luật là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất gây nghiện. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự an toàn xã hội; bị cáo có tiền án về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, chưa được xóa án tích lại tiếp tục tái phạm, bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa những sai phạm mà lại thực hiện tội phạm mới, chứng tỏ bị cáo coi thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước, nên cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có án tích chưa được xóa án nên phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 của Bộ luật hình sự và có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự.

- 3 -

Trần Đình V khai mua ma túy của một thanh niên không quen biết ở khu vưc Trường mầm non xã Tân Hội, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không làm rõ được, ngoài lời khai của V không có tài liệu, chứng cứ nào khác, nên không có cơ sở để kết luận.

. Về áp dụng hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, tài sản không có nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Đan Phượng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/4/2019) gồm: 01 bao gói sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội được niêm phong theo quy định của pháp luật (bên trong đựng ma túy đã niêm phong sau giám định), xét đây là vật chứng của vụ án nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động Nokia màu đen lắp số thuê bao 0982.965.914 đây là phương tiện bị cáo sử dụng liên lạc khi mua ma túy nên tịch thu sung quỹ Nhà nước; 01 xe mô tô Yamaha Exciter không biển kiểm soát, số khung RLCE55P10BY003820, số máy 55P-003820 quá trình điều tra xác định chiếc xe này là tài sản hợp pháp của anh Đỗ Văn T cho V mượn, khi cho mượn xe anh T không biết V sử dụng xe đi mua ma túy. Do đó, trả lại xe máy cho anh T là đúng quy định của pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 ; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Đình V 17 (mười bảy) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 05/01/2019 đến ngày 11/01/2019).

2. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bao gói sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội được niêm phong theo quy định của pháp luật (bên trong đựng ma túy đã niêm phong sau giám định).

+ Tich thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu đen lắp số thuê bao 0982.965.914.

+ Trả anh Đỗ Văn T 01 xe mô tô Yamaha Exciter không biển kiểm soát, số khung RLCE55P10BY003820, số máy 55P-003820.

- 4 -

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Đình V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./. N¬i nhËn:

TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm

- TAND thµnh phè Hµ Néi;

ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa

- VKSND thành phố Hà Nội;

- VKSND huyÖn §an Ph îng;

- C«ng an huyÖn §an Ph îng;

- THADS huyÖn §an Ph îng;

- BÞ c¸o; người liên quan;

- L u hå s¬.

TrÇn Duy H ng

- 5 -

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA N¬i nhËn:

TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm

- TAND thµnh phè Hµ Néi;

ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa

- VKSND thành phố Hà Nội;

- VKSND huyÖn §an Ph îng;

- C«ng an huyÖn §an Ph îng;

- THADS huyÖn §an Ph îng;

- BÞ c¸o, Bị hại, Người liên quan;

- L u hå s¬.

TrÇn Duy H ng

- 6 -

- 7 -

- 8 -

Cỡ chữ