vanban.org

Bản án 32/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Sùng A G.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (hai mươi hai) tháng, kể từ ngày được giao vào quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên, ngày 11/6/2026. Về quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: Anh Sùng A G có quyền khiếu nại; Công an xã N, tỉnh Đ có quyền kiến… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Sùng A G"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Sùng A G.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 32/QĐ-TAĐiện Biên, ngày 30 tháng 6 năm 2026.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chínhđưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Chu Thị Chức.

2. Thư ký phiên họp: Bà Trần Thanh Hằng.

Ngày 30 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Điện Biên, tỉnh Điện Biên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 32/QĐ - TA ngày 23 tháng 6 năm 2026 đối với: Họ và tên: Sùng A G (tên gọi khác: không có tên gọi khác); Sinh ngày: 01/01/1978; Giới tính: Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Số CCCD: 0110780xxxxx, ngày cấp: 29/4/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH. Nguyên quán: xã S, tỉnh Đ. Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố A, xã N, tỉnh Đ. Nghề nghiệp: Nông nghiệp. Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 12/3/2025 bị Toà án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên xét xử 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Nhân thân: Ngày 13/3/2023 bị xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, phạt tiền 3.500.000 đồng, ngày 14/3/2023 đã chấp hành xong quyết định (đã được xoá tiền sự). Con ông: Sùng Lủ T; Con bà: Thào Thị C1.

Người bị đề nghị Sùng A G đang bị quản lý tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên từ ngày 11/6/2026 cho đến nay. Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Sùng A Khai – Trưởng Công an xã N, tỉnh Điện Biên. 2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Điện Biên: Ông Vàng A Vừ - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Hành vi của Sùng A G và quá trình xây dựng hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như sau:

Sùng A G sử dụng ma túy, có nơi cư trú ổn định tại bản tổ dân phố A, xã N, tỉnh Đ. Ngày 28/5/2026 G có đơn đề nghị Trạm y tế xã N, tỉnh Đ xác định tình trạng nghiện ma tuý. Kết quả: Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 01/6/2026 của Trạm y tế xã N, tỉnh Đ kết luận: Sùng A G nghiện chất ma túy: Loại Heroin.

Ngày 01/6/2026, Công an xã N thông báo về việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, yêu cầu Sùng A G đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định tại Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy, trong thời hạn 5 ngày làm việc Giàng phải đăng ký cai nghiện tự nguyện, nhưng hết thời hạn trên Sùng A G vẫn không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định.

Ngày 11/6/2026 Công an xã N đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện số: 08/BB-VPHC đối với Sùng A G. Ngày 12/6/2026, Công an xã N, thông báo lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Sùng A G.

Tại bản tường trình về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Sùng A G thừa nhận đã sử dụng ma túy lần đầu từ năm 2021, loại ma túy sử dụng là Heroine, hình thức sử dụng là hít, hút mỗi ngày sử dụng từ 01 lần đến 02 lần, lý do sử dụng là do bản thân nghiện ma tuý, khi sử dụng ma túy cảm thấy tinh thần thoải mái, hứng phấn, không sử dụng ma túy cảm thấy khó chịu, mệt mỏi không làm được việc gì. Thời điểm sử dụng ma túy lần cuối là ngày 10/6/2026.

Ngày 18/6/2026, Trưởng Công an xã N có đề nghị số: 08/ĐN-CNBB, đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên xem xét đưa Sùng A G vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quá trình lập hồ sơ, Sùng A G đã được thông báo về việc lập hồ sơ và được đọc hồ sơ đúng quy định.

Tại phiên họp:

Đại diện Cơ quan đề nghị trình bày ý kiến: Giữ nguyên quan điểm theo đề nghị số: 08/ĐN-CNBB ngày 18/6/2026 của Công an xã N, tỉnh Điện Biên. Đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Sùng A G. Nơi chấp hành: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên (Địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Đ).

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Điện Biên có ý kiến: Trình tự, thủ tục lập hồ sơ của cơ quan đề nghị và quá trình thụ lý, giải quyết của Toà án đối với việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Sùng A G được thực hiện đúng theo quy định. Người bị đề nghị Sùng A G đã được bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Xét thấy có đủ căn cứ pháp lý đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Sùng A G vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 22 đến 24 tháng.

Người bị đề nghị có ý kiến: Sùng A G xác nhận bản thân nghiện ma tuý và chưa đăng ký hình thức cai nghiện hoặc điều trị nghiện bằng các chất thay thế, nay bản thân nhất trí được đi cai nghiện, Tuy nhiên, Sùng A G có ý kiến đề nghị xem xét cho G đi cai nghiện bắt buộc với thời hạn thấp nhất.

XÉT THẤY:

Trên cơ sở nội dung vụ việc, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ đề nghị đã được thẩm tra tại phiên họp cũng như ý kiến của những người tham gia phiên họp thấy rằng:

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ: Tài liệu trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Sùng A G đảm bảo về thời hiệu và trình tự, thẩm quyền, đối tượng theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95, khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 41 của Nghị định số 116/ 2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, đưa vào trường G1, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của người bị đề nghị áp dụng:

Sùng A Giàng nghiện và sử dụng trái phép chất ma túy, có đơn đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy và có kết quả xác định là nghiện chất ma túy (loại Heroine), G có năng lực trách nhiệm hành chính, có nơi cư trú ổn định. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được thông báo kết quả xác định nghiện ma túy của cơ quan có thẩm quyền, G vẫn không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã, nơi cư trú là vi phạm vào khoản 1 Điều 32 của Luật phòng chống ma túy; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy nên cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với G, để Sùng A G được cai nghiện ma túy, học tập, rèn luyện và lao động trở thành người công dân khỏe mạnh, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hành chính thấy: Ngày 13/3/2023 G bị xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, phạt tiền 3.500.000 đồng, ngày 14/3/2023 đã chấp hành xong quyết định (đã được xóa tiền sự), G vẫn không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém. Do vậy, khẳng định Sùng A G có nhân thân xấu. Tuy nhiên, tại phiên họp G đã tự nguyện khai báo, hối lỗi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Ngày 12/3/2025 bị Toà án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên xét xử 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, G đã vi phạm trong thời gian đang chấp hành án hình phạt của bản án hình sự là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Ý kiến của cơ quan đề nghị, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Điện Biên đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Sùng A G là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 5, điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, điểm h khoản 1 Điều 10, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Sửa đổi, bổ sung các năm 2020, 2025);

Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021; khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 33, khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 41, khoản 3 Điều 44 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 3, Điều 8, Điều 17, Điều 21, Điều 23, Điều 24, Điều 30, Điều 31, Điều 32 và Điều 33 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025;

Căn cứ Điều 7, Điều 8 và Điều 11 của Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, đưa vào trường G1, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Sùng A G.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (hai mươi hai) tháng, kể từ ngày được giao vào quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên, ngày 11/6/2026.

3. Về quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: Anh Sùng A G có quyền khiếu nại; Công an xã N, tỉnh Đ có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Điện Biên, tỉnh Điện Biên có quyền kháng nghị Quyết định này bằng văn bản gửi đến Tòa án nhân dân khu vực 4 – Điện Biên, tỉnh Điện Biên trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (30/6/2026).

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị. 5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên./.

Cỡ chữ