- Tranh chấp gì? "Đào Phúc H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đào Phúc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2020/HSST Ngày 16 tháng 7 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚ C CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hường
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Lâm
Ông Nguyễn Mạnh Hùng
- Thư ký phiên toà : Ông Lương Anh Tuấn- Thư ký tòa án Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân huy ện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Vương Thị Đàm Chuyên- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huy ện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 32/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Đào Phúc H, sinh năm 1984; nơi sinh: Phú Thọ; nơi cư trú: Khu 6, xã PN, huyện P, tỉnh P; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Phúc T và bà Nguyễn Thị T; vợ: Lý Thị P; con: Không có; tiền án: 02 (Bản án số 51/2014/HSST ngày 27/3/2014 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P xử phạt bị cáo H 33 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/02/2016, nộp tiền án phí ngày 18/6/2014; Bản án số 239/2016/HSST ngày 30/9/2016 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P xử phạt bị cáo H 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/02/2019, nộp tiền án phí ngày 30/9/2016, tiền truy thu sung quỹ Nhà nước ngày 08/02/2017); tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/02/2020; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hán Đức M, sinh năm 1987; trú tại: Khu 6, xã T, huyện L, tỉnh P, vắng mặt.
1NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 17/02/2020 Nguyễn Đức K đến nhà rủ Hán Đức M góp tiền mua chung ma túy về sử dụng, M đồng ý. K đưa cho M 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), M có 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). M điện thoại cho Đào Phúc H hỏi mua 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) ma túy, loại Heroine, H hẹn gặp M ở khu vực gần cổng Công ty hóa chất thuộc thị trấn P, huyện P, tỉnh P.
K chở M đến điểm hẹn. Khi đi đến khu vực ngã ba một đường đi ra cảng An Đạo, một đường đi về hướng xã PN thuộc khu T, thị trấn P, huyện P thì gặp H đang đứng ở ven đường. H lên xe đi cùng, đề nghị K chở về phía xã Phú Nham, huyện Phù Ninh. K điều khiển xe mô tô chở M, H đi đến khu vực đường bê tông cách quán karaoke Gia Đình khoảng 200m thuộc khu 6, xã Phú Nham, huyện Phù Ninh thì H yêu cầu dừng xe. Sau khi xuống xe, H lấy trong người ra một gói ma túy, san một phần vào tờ giấy bạc của bao thuốc Thăng Long do K đưa, K nhận số ma túy này còn M đưa cho H 500.000đ; số ma túy còn lại H cất giữ trong người.
Sau khi mua ma túy của H, K đèo M đi đến khu vực sân chọi trâu thuộc xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh thì M xuống xe. Tại đây, K và M chia nhau số ma túy đã mua của H. K điều khiển xe môtô đến khu vực bãi đất trống gần Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh thuộc khu 3, thị trấn P, huyện P sử dụng hết số ma túy còn M đi vào khu vực sân chọi trâu sử dụng ma túy, vừa sử dụng ma túy xong thì bị tổ công tác Công an huyện Phù Ninh phát hiện, kiểm tra, thu giữ 01 xi lanh nhựa loại 3ml/cc đã qua sử dụng có bám dính dung dịch màu hồng, 01 vỏ ống Novocain, 01 mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đen, gắn kèm sim số 0368.670.770.
Căn cứ lời khai của Hán Đức M, cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Ninh ra lệnh giữ người trong trường H khẩn cấp đối với Đào Phúc H về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Quá trình thi hành lệnh bắt đã thu giữ trên người Đào Phúc H 02 gói giấy có đặc điểm mặt ngoài màu trắng được in chữ màu xanh lá cây, màu đen, màu đỏ (kiểu chữ đánh máy), mở các gói giấy này ra mặt trong màu trắng bên trong chứa chất bột cục màu trắng; 01 xi lanh nhựa loại 1ml đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel loại A109i màu đen đã cũ, gắn 02 sim điện thoại số 0901.717.190 và 0966.500.216; số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Đào Phúc H khai số ma túy trên nhằm mục đích để bán nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện, thu giữ.
Tại bản kết luận giám định số 268/KLGĐ ngày 24/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: “Trong dung dịch màu hồng bám dính trong một xilanh nhựa màu trắng, loại 03ml/cc được niêm phong trong bì giấy vật chứng của Hán Đức M gửi đến giám định, tìm thấy chất ma túy Heroin.
Chất bột, cục màu trắng chứa trong 02 gói giấy đều có có đặc điểm mặt ngoài màu trắng được in chữ màu xanh lá cây, màu đen, màu đỏ, mặt trong màu trắng được niêm phong trong bì ghi vật chứng thu giữ của Đào Phúc H gửi đến giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,133 gam, loại Heroin.”
Về nguồn gốc số ma túy H khai nhận: Toàn bộ số ma túy bán cho M, K và số ma túy bị thu giữ là do Dương Minh T, sinh năm 1979, trú tại: Khu 9, thị trấn P, huyện P cho H. Sau khi M hỏi mua ma túy, H gọi điện xin ma túy của Toàn để bán cho M. Số ma túy này H không nhận trực tiếp của T mà do Tạ Đức H, sinh năm 1973; trú tại: Khu 10, xã P, huyện P nhận của T rồi đưa cho H tại khu vực gần sân chọi trâu xã P, huyện P, tỉnh P. Số ma túy bị cáo cất giấu trong người là do Toàn đưa trực tiếp cho H tại nhà của T, H cất vào túi áo bên phải đang mặc cùng gói ma túy Hải đưa lúc trước và đi bộ một mình về nhà, trên đường đi bị Cơ quan Công an bắt, thu giữ. Đối với số tiền 500.000đ bán ma túy, H trả cho Toàn nhưng Toàn không nhận mà cho bị cáo.
Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Ninh đã triệu tập Dương Minh T và Tạ Đức H đến để làm việc, tuy nhiên T và H không thừa nhận việc đưa ma túy cho H. Tiến hành đối chất giữa H với H, giữa H với Toàn nhưng T và H vẫn không thừa nhận việc có đưa ma túy cho H. Ngoài lời khai của H không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý T và H.
Cáo trạng số 30/CT-VKSPN ngày 10/6/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Đào Phúc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa,
Bị cáo H thừa nhận có trao đổi mua bán ma túy với M qua điện thoại; không biết cụ thể việc góp tiền mua chung ma túy của M và K nhưng khi hai bên giao dịch mua bán ma túy thì K là người nhận ma túy, M là người đưa tiền. Bản thân bị cáo nhận thức là bán ma túy cho 02 người và đều biết đây là các đối tượng nghiện ma túy. Đối với số ma túy tàng trữ trong người bị cáo nhằm mục đích để bán. Bị cáo không có ý kiến gì đối với cáo trạng và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đào Phúc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy". Căn cứ điểm c, q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù. Về vật chứng và án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng:
Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Ninh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về nội dung:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Vào khoảng 13 giờ ngày 17/02/2020, Đào Phúc H đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Hán Đức M và Nguyễn Đức K thu được số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Ngoài ra, khi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Ninh bắt quả tang, thu giữ trên người H 02 gói ma túy Heroine có khối lượng 0,133gam, H khai tàng trữ số ma túy này nhằm mục đích để bán.
Như vậy, H đã có 02 tiền án về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, “Mua bán trái phép chất ma túy”, đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường H “tái phạm nguy hiểm”, là tình tiết định khung tăng nặng. Bị cáo bán trái phép chất ma túy cho 02 người và tàng trữ 0,133 gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích để bán nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt cao nhất đến 15 năm tù.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự và an ninh tại địa phương. Bị cáo biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích vụ lợi cá nhân. Do đó, cần xử phạt thật nghiêm khắc, cách ly ra khỏi xã hội mới đảm bảo răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có nhân thân xấu, có 02 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và được hưởng 01tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác minh xác định bị cáo không có việc làm, không có thu nhập, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
Đối với 02 bì niêm phong số 268/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ (bên trong có 0,095 gam chất bột, cục màu trắng là vật chứng còn lại sau khi giám định và bao gói; 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 03ml/cc và bao gói); 01 bì niêm phong kiểm tra sử dụng chất ma túy của Đào Phúc H; 01 mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 vỏ ống Novocain; 01 xilanh nhựa loại 01mml đã qua sử dụng; 03 sim điện thoại số 0368.670.770, 0901.717. 790, 0966.500.216 thu giữ của Hán Đức M, Đào Phúc H là những vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; vật không có giá trị, không sử dụng được cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đen đã qua sử dụng của Hán Đức M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel loại A109i màu đen đã qua sử dụng của Đào Phúc H là phương tiện M, H sử dụng để liên lạc giao dịch mua bán ma túy nên cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo H là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Đức K, Hán Đức M, Đào Phúc H, Công an huyện Phù Ninh đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K, M, H theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ là phù H.
Đối với Dương M Toàn là người H khai cho bị cáo ma túy, Tạ Đức Hải là người nhận ma túy từ Toàn và đưa cho bị cáo: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Ninh đã tiến hành đối chất, kiểm tra tin nhắn, điện thoại nhưng Toàn, Hải không thừa nhận việc cho, đưa ma túy cho H; không có tin nhắn; không ghi âm được nội dung các cuộc điện thoại gọi đi, đến giữa Toàn và H. Ngoài lời khai của H không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng M nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý Toàn và Hải là phù H.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về các căn cứ pháp luật về hình phạt, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp và án phí là phù H.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
1. Tuyên bố bị cáo Đào Phúc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đào Phúc H 08 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 17/02/2020).
2. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
- Tịch thu, tiêu hủy: 02 bì niêm phong số 268/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ (Bên trong có 0,095 gam chất bột, cục màu trắng là vật chứng còn lại sau khi giám định và bao gói; 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 03ml/cc và bao gói); 01 bì niêm phong kiểm tra sử dụng chất ma túy của Đào Phúc H; 01 mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 vỏ ống Novocain; 01 xilanh nhựa loại 01mml đã qua sử dụng; 03 sim điện thoại số 0368.670.770, 0901.717.790, 0966.500.216.
- Tịch thu, sung vào Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đen, đã qua sử dụng của Hán Đức M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel loại A109i màu đen, đã qua sử dụng của Đào Phúc H; số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) của bị cáo H.
Các vật chứng trên đang lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) hiện đang ở trong tài khoản tạm giữ số 3949.0.1053892.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh mở tại Kho bạc nhà nước huyện Phù Ninh.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Đào Phúc H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày bản án được tống đạt H lệ.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; - Công an huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; - THA HS, DS huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; - Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - UBND xã Phú Nham, Phù Ninh, Phú Thọ; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phùng Thị Thu Hường |