vanban.org

Bản án 32/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Lâm T1, Nguyễn Mạnh H và Hoàng Văn H1 phạm tội "Đánh bạc".

Về mức hình phạt: Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Phạt tiền các bị cáo Nguyễn Lâm T1 và Hoàng Văn H1, mỗi bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Lâm Tùng - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Lâm T1, Nguyễn Mạnh H và Hoàng Văn H1 phạm tội "Đánh bạc".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2026/HSST
Ngày 29-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Hồng Giang;

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Hùng và ông Lê Đình Hiệp;

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hứa Thị Ngọc Hà, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Diệp Thị Hương, Kiểm sát viên.

Ngày 29/01/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2026/TLST-HS ngày 05/01/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2026/QĐXXST-HS ngày 14/01/2026, đối với các bị cáo:

1. NGUYỄN LÂM T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/9/1989, tại Thái Nguyên; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Tổ D, phường G, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Đỗ Kim P; có vợ là Trần Thị L và 02 con. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 181/2025/HS-ST ngày 24/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên, xử phạt bị cáo Nguyễn Lâm T 12 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng" theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, tại ngoại tại địa phương cho đến nay, (có mặt).

2. HOÀNG VĂN HẠNH, tên gọi khác: Không; sinh ngày 13/3/1983, tại Thái Nguyên; đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ F, phường G, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đông H và bà Nguyễn Thị M; có vợ là Hà Thị X và 02 con. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 22/QĐ-XPHC ngày 22/02/2010 của Công an phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt 150.000 đồng về hành vi "Trộm cắp tài sản", đến nay chưa nộp phạt, với lý do: Không có khả năng thi hành, đến nay đã hết thời hiệu.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, tại ngoại tại địa phương cho đến nay, (có mặt).

3. NGUYỄN MẠNH H1, tên gọi khác: Không; sinh ngày 19/9/1986, tại Ninh Bình; đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố A, phường G, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Viên chức Phòng Thời sự - Báo và Phát thanh truyền hình tỉnh T; trình độ văn hoá: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1 và bà Đinh Thị H2; có vợ là Tô Thị Thu N và 02 con. Tiền án, tiền sự: Không. Là Đảng viên Đ, hiện đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng tại Quyết định số 02-QĐ/UBKTĐU ngày 06/01/2026 của Uỷ ban Kiểm tra Đảng uỷ các cơ quan Đảng tỉnh Thái Nguyên.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, tại ngoại tại địa phương cho đến nay, (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Đỗ Phúc T2, sinh năm 1985, địa chỉ: Tổ D, phường G, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).

2. Ông Nguyễn Đình D, sinh năm 1954, địa chỉ: Tổ A, phường G, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).

Người chứng kiến: Ông Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1983, địa chỉ: Tổ D, phường G, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 20/8/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T kiểm tra ngôi nhà của Nguyễn Lâm T thuộc tổ dân phố D, phường G, tỉnh Thái Nguyên, phát hiện T đang cầm điện thoại di động Samsung Galaxy S20+ màu xanh đang lắp sim điện thoại số 0975.616.102 sử dụng để mua bán số lô, số đề với người khác. Ngoài ra, T còn tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại IPHONE 14 Promax màu tím, do T đã sử dụng để giao dịch đánh bạc với người khác. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc, tạm giữ đồ vật, tài liệu liên quan, gồm: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S20+, màu xanh, lắp SIM: 0975.616.102; số seri: R58N22VJC6F; số IMEI 1: 355362111556358; số IMEI 2: 335363111556356; 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax, màu tím, lắp SIM: 0921.090.888; số seri: FOJKMQJJM2; số IMEI: 357650619403265.

Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận: Tháng 8/2025, do muốn kiếm thêm thu nhập nên T đã nảy sinh ý định bán các số lô, số đề cho khách đến uống bia tại quán của mình và tự trả thưởng, nếu người mua trúng thưởng sau khi đối chiếu kết quả số số kiến thiết miền B mở thưởng hồi 18 giờ 30 hàng ngày. Để thực hiện hành vi của mình, T sử dụng điện thoại di động Samsung Galaxy $20+, màu xanh số seri: R58N22VJC6F; số IMEI 1: 355362111556358; số IMEI 2: 335363111556356, lắp sim số thuê bao 0975.616.10. Người mua sẽ nhắn tin qua ứng dụng Telegram hoặc tin nhắn điện thoại SMS đăng ký bằng số thuê bao 0975.616.10. Từ giữa tháng 8/2025 đến ngày 20/8/2025, T đã nhắn tin bán số lô, số đề với các đối tượng: Nguyễn Mạnh H1 có số thuê bao 0375.394.753; Hoàng Văn H3 có số thuê bao 0393.089.440; Đỗ Phúc T2, sinh năm 1985, trú tại tổ dân phố D, phường G, tỉnh Thái Nguyên có số thuê bao 0848.886.446; Nguyễn Đình D, sinh năm 1954, trú tại tổ dân phố A, phường G, tỉnh , Thái Nguyên có số thuê bao 0387.416.308 và một người đàn ông tên M1 không xác định được nhân thân, lai lịch có số thuê bao 0913.668.912, T lưu trong điện thoại là "Chu Mah.thag". Các đối tượng H1, H3, T2 và D đã khai nhận việc mua số lô, số đề và kê khai số lô, số đề mua của T, đồng thời giao nộp một số điện thoại của mình sử dụng vào việc mua số lô, số đề cho Cơ quan điều tra.

Về hình thức đánh bạc: Các bị cáo đánh bạc bằng hình thức sử dụng điện thoại di động, nhắn tin qua mạng xã hội T3 và tin nhắn điện thoại để mua bán số lô, số đề, cụ thể như sau: Đối với số đề, người mua sẽ chọn mua một hoặc nhiều cặp số bất kỳ từ 00 đến 99 với giá tiền tùy ý, sau đó so sánh số đề đã mua với 02 số cuối của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày. Nếu trúng thưởng, người mua sẽ được số tiền gấp 70 lần số tiền đã bỏ ra mua số đề đó. Đối với số lô, người mua chọn mua một hoặc nhiều cặp số bất kỳ từ 00 đến 99 với số điểm lô tùy ý (giá 01 điểm lỗ tùy theo quy ước của hai bên, từ 21.500 đồng đến 23.000 đồng). Sau đó sẽ so sánh số lô đã mua với hai số cuối của 27 giải xổ số miền B cùng ngày. Nếu trúng thưởng, người mua sẽ được số tiền 80.000 đồng/điểm lô đã mua (tỷ lệ 1 ăn 80), đối với hệ cách thức tính cũng giống như số đề. Đối với số lô xiên, người mua sẽ chọn hai cặp số (đối với lô xiên 2), ba cặp số (đối với lô xiên 3) bất kỳ và giá tiền tùy ý, sau đó so sánh số lô xiên với hai, ba số cuối của 27 giải xổ số miền B cũng ngày. Nếu trúng người mua sẽ được trả thưởng số tiền gấp 10 lần số tiền đã bỏ ra mua đối với lô xiên 2 đó và gấp 35 lần đối với số lô xiên 3 đó. Đối với ba càng, người mua chọn mua 03 số bất kỳ với số tiền tùy ý. Sau đó, đối chiếu số ba càng đã mua với 03 số cuối giải đặc biệt xổ số miền B cùng ngày. Nếu trúng thưởng người chơi sẽ được số tiền gấp 350 lần số ba càng đã mua.

Về hành vi đánh bạc: Với hình thức đánh bạc như trên, trong các ngày 19/8/2025 và 20/8/2025, T, H1 và H3 đã thực hiện hành vi đánh bạc như sau: Khoảng 17 giờ 43 phút ngày 19/08/2025, H3 gửi 05 tin nhắn qua ứng dụng Telegram được đăng ký bởi số thuê bao 0393.089.440, là số điện thoại của H3, đến tài khoản Telegram của T được đăng ký bởi số thuê bao: 0975.616.102 với nội dung mua 17 số lô có tổng số điểm là 325 điểm với số tiền 7.150.000 đồng; 05 số đề với số tiền 230.000 đồng. Tổng số tiền H3 mua số lô, số đề của T ngày 19/8/2025 là 7.380.000 đồng. Sau khi đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng vào 18 giờ 30 phút cùng ngày, H3 không trúng thưởng. Đến ngày 20/8/2025, H3 đến quán của T để uống bia rồi thanh toán số tiền 7.380.000 đồng cho T. Tổng số tiền T và H3 đánh bạc với nhau ngày 19/8/2025 là 7.380.000 đồng.

Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 20/8/2025, Nguyễn Đình D nhắn 01 tin nhắn từ số điện thoại 0387.416.308 đến số điện thoại 0975.616.102 của T với nội dụng mua 03 số lô với số tiền 198.000 đồng; 21 số đề với số tiền số tiền 125.000 đồng. T và D chưa so sánh được kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện. Tổng số tiền đánh bạc giữa T với D ngày 20/8/2025 là 323.000 đồng.

Khoảng 17 giờ 41 phút ngày 20/8/2025, người đàn ông tên M1 chưa rõ nhân thân lai lịch nhắn tin từ số điện thoại 0913.668.912 đến số điện thoại 0975.616.102 của T, với nội dung mua 07 số lô với số tiền 770.000 đồng. T và M1 chưa so sánh được kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện. Tổng số tiền đánh bạc giữa T với M1 ngày 20/8/2025 là 770.000 đồng.

Đến khoảng 17 giờ 55 phút ngày 20/08/2025, Đỗ Phúc T2 sử dụng số thuê bao 0848.886.446 nhắn 01 tin nhắn SMS đến số điện thoại 0975.616.102 của T, với nội dung mua bán 04 số lô xiên 4 với số tiền 50.000 đồng; 04 số đề giải nhất với số tiền số tiền 500.000 đồng. T và T2 chưa so sánh được kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện. Tổng số tiền đánh bạc giữa T với T2 ngày 20/8/2025 là 550.000 đồng.

Vào khoảng 18 giờ 04 phút ngày 20/08/2025, Nguyễn Mạnh H1 gửi 01 tin nhắn qua ứng dụng Telegram được đăng ký số thuê bao 0375.394.753, là số điện thoại của H1 đến tài khoản Telegram của T được đăng ký số thuê bao 0975.616.102, T lưu tên trong danh bạ A Hùng B, với nội dung mua bán 15 số lô với số tiền 10.120.000 đồng; 01 số lô xiên 4 với số tiền 80.000 đồng; 23 số đề ba càng với số tiền 776.000 đồng, 68 số đề với số tiền 2.107.500 đồng. T và H1 chưa so sánh được kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện. Tổng số tiền đánh bạc giữa T với H1 ngày 20/8/2025 là 13.243.500 đồng.

Số tiền mua số lô, số đề ngày 19/8/2025, Hoàng Văn H3 đã thanh toán cho T trực tiếp bằng tiền mặt, T đã chỉ tiêu cá nhân hết, hiện chưa thu hồi được. Số tiền mua số lô, số đề ngày 20/8/2025, Nguyễn Mạnh H1, Nguyễn Đình D và Đỗ Phúc T2 và người tên M1 chưa thanh toán cho T.

Lời khai nhận của T, H1 và H3 phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản sự việc, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng vụ án gồm: 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S20+, màu xanh, số IMEI 1: 355362111556358; số IMEI 2: 335363111556356, bên trong gắn 01 thẻ SIM số 0975.616.102, trên thẻ SIM có dãy số 8984048000040315503 được niêm phong trong bì ký hiệu A1 thu giữ của T; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone14 Promax, màu tím, số IMEI: 357650619403265, số IMEI2: 357650418528582 bên trong gần 02 thẻ SIM, trên thẻ SIM có các dãy số: 59840200022294161034; 89840480009420867267 được niêm phong trong bì ký hiệu A2 thu giữ của T; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax, số IMEI: 358686414116321, số IMEI 2: 358686414051031; bên trong gắn 01 thẻ SIM số 0375.394.753, trên thẻ sim có dây số: 8984048831004409762 được niêm phong trong bì ký hiệu A3 thu giữ của H1; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A03, số IMEI 1: 350165828673134; số IMEI2: 3503931786733138; bên trong gắn 02 thẻ sim, có các dãy số: 89840509211617844180; 8984048008829574362 được niêm phong trong bị niêm phong ký hiệu A4 thu giữ của H3; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng, số IMEI 1: 353967817055265; số IMEI 2: 353967817265526; bên trong gắn thẻ SIM số 0848.886.446, trên thẻ sim có các dãy số: 89840200010821859071 được niêm phong trong bì ký hiệu A5 thu giữ của T2.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.

Cáo trạng số 114/CT-VKSKV1TN, ngày 30/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo: Nguyễn Lâm T, Nguyễn Mạnh H1 và Hoàng Văn H3 về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề như sau:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Lâm T, Nguyễn Mạnh H1 và Hoàng Văn H3 phạm tội "Đánh bạc".

2. Về mức hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Lâm T từ 07 tháng tù đến 10 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 181/2025/HSST, ngày 24/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Phạt tiền bị cáo Nguyễn Mạnh H1 từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H3 từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

3. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, phạt các bị cáo T và H3, mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S20+, màu xanh, số IMEI 1: 355362111556358; số IMEI 2: 335363111556356, bên trong gần 01 thẻ sim số 0975.616.102, trên thẻ SIM có dãy số 8984048000040315503 được niêm phong trong bì ký hiệu A1thu giữ của T; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax, số IMEI 1: 358686414116321, số IMEI 2: 358686414051031; bên trong gắn 01 thẻ SIM số 0375.394.753, trên thẻ sim có dây số 8984048831004409762 được niêm phong trong bì ký hiệu A3 thu giữ của H1; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A03, số IMEI 1: 350165828673134; số IMEI2: 3503931786733138; bên trong gắn 02 thẻ sim có các dãy số: 89840509211617844180; 8984048008829574362 được niêm phong trong bị niêm phong ký hiệu A4 thu giữ của H3.

Trả lại cho bị cáo T nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone14 Promax, màu tím, số IMEI: 357650619403265, số IMEI2: 357650418528852 bên trong gần 02 thẻ sim, trên thẻ sim có các dãy số: 59840200022294161034; 89840480009420867267 được niêm phong trong bì ký hiệu A2 thu giữ của T;

Trả lại cho ông Đỗ Phúc T2: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng, số IMEI 1: 353967817055265; số IMEI 2: 353967817265526; bên trong gắn thẻ sim số 0848.886.446, trên thẻ sim có các dãy số: 89840200010821859071 được niêm phong trong bì ký hiệu A5 thu giữ của T2.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản sự việc, vật chứng thu giữ và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

Vào các ngày 19/8/2025 và 20/8/2025, tại quán bia nhà Nguyễn Lâm T ở tổ D, phường G, tỉnh Thái Nguyên, T, H1 và H3 đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức sử dụng điện thoại di động, nhắn tin qua mạng xã hội T3 và tin nhắn điện thoại để mua, bán số lô, số đề, cụ thể như sau. Cụ thể như sau: Ngày 19/8/2025, T thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho H3 với tổng số tiền 7.380.000 đồng. Ngày 20/8/2025, T thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề với những người sau: Nguyễn Đình D với số tiền 323.000 đồng; Đỗ Phúc T2 với số tiền 550.000 đồng; Nguyễn Mạnh H1 với số tiền 13.243.500 đồng và một người tên M1 chưa rõ nhân thân, lai lịch với số tiền 770.000 đồng, tổng số tiền T1 đánh bạc trong ngày 20/8/2025 là 14.886.500 đồng.

Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo T1, H và H1 đã có hành vi phạm tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 114/CT-VKSKV1 ngày 30/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, điều luật có nội dung như sau:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền

hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ...thì bị phạt

tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ

đến 03 năm hợc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Xét vai trò của các bị cáo, các bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giản đơn, là người trực tiếp cùng thực hiện tội phạm, không có sự tổ chức, phân công bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau. Hội đồng xét xử căn cứ vào nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy: Bị cáo H có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; bị cáo H1 năm 2010 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; bị cáo T1 ngày 24/12/2025 bị Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng".

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, có thái độ tỏ rõ sự ăn năn hối cải nên cả 03 bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đó là "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải"; bị cáo H và H1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đó là: "Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng". Ngoài ra, bị cáo H trong quá trình công tác đã đạt được nhiều giải thưởng do Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản H2; Hội N tổ chức, nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T1 phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đó là "Phạm tội 02 lần trở lên" theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H và H1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt chính: Đối với bị cáo H là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là viên chức công tác tại Đài phát thanh truyền hình tỉnh T, có việc làm, thu nhập ổn định. Xét thấy, áp dụng mức hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung. Đối với bị cáo T1 và H1 là người có nhân thân xấu, bị cáo H1 đã bị xử lý hành chính, bị cáo T1 đã bị Toà án kết án, nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm mà lại tiếp tục phạm tội, do vậy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo T1 và H1.

Quá trình giải quyết vụ án xác định số tiền 13.243.500 đồng H đánh bạc với T1, H chưa thanh toán cho T1, do vậy cần phải truy thu của bị cáo H số tiền 13.243.500 đồng. Số tiền 7.380.000 đồng H1 đánh bạc với T1, H1 đã thanh toán cho T1, do vậy phải truy thu của T1 số tiền 7.380.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng vụ án: Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S20+, thu giữ của T1; điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax, thu giữ của H; điện thoại nhãn hiệu Samsung A03, thu giữ của H1 đây là những chiếc điện thoại các bị cáo đã sử dụng để đánh bạc cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với điện thoại nhãn hiệu Iphone14 Promax, thu giữ của T1, quá trình điều tra xác định bị cáo không sử dụng vào việc đánh bạc, cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng, thu giữ của Đỗ Phúc T, cần trả lại cho ông T.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các vấn đề khác: Đối với hành vi đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề của Đỗ Phúc T và Nguyễn Đình D ngày 20/8/2025, do số tiền đánh bạc của T và D đều dưới 5.000.000 đồng, các đối tượng chưa bị kết án về tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc và chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi trên, nên hành vi của T và D không cấu thành tội phạm. Ngày 18/12/2025, Công an phường G, tỉnh Thái Nguyên đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T và D về hành vi đánh bạc theo quy định tại khoản 1, Điều 28, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với người đàn ông tên M, sử dụng số điện thoại 0913.668.912 thực hiện hành vi đánh bạc với T1 vào hồi 17 giờ 41 phút ngày 20/8/2025, kết quả xác minh số thuê bao 0913.668.912 được đăng ký bằng thông tin của ông Nguyễn Anh D1, sinh năm 1966, trú tại tổ dân phố G, phường G, tỉnh Thái Nguyên. Ông D1 xác định đã bị mất điện thoại cùng số thuê bao trên từ năm 2022, bản thân không thực hiện hành vi đánh bạc với T1 hay bất cứ ai. Do vậy, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Lâm T1, Nguyễn Mạnh H và Hoàng Văn H1 phạm tội "Đánh bạc".

2. Về mức hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Lâm T1 07 (bảy) tháng tù. Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 12 (mười hai) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 181/2025/HSST ngày 24/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 19 (mười chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành bản án.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Phạt tiền bị cáo Nguyễn Mạnh H 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H1 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành bản án.

3. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Phạt tiền các bị cáo Nguyễn Lâm T1 và Hoàng Văn H1, mỗi bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.

4. Căn cứ Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự: Cấm các bị cáo Nguyễn Lâm T1, Nguyễn Mạnh H và Hoàng Văn H1 đi khỏi nơi cư trú 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

5. Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh H phải nộp số tiền 13.243.500 đồng; buộc bị cáo Nguyễn Lâm T1 phải nộp số tiền 7.380.000 đồng vào ngân sách Nhà nước.

6. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước, gồm:

- 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S20+, màu xanh, số IMEI 1: 355362111556358; số IMEI 2: 335363111556356, bên trong gắn 01 thẻ SIM số 0975.616.102, trên thẻ SIM có dãy số 8984048000040315503 được niêm phong trong bì ký hiệu A1 thu giữ của T1;

- 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax, số IMEI: 358686414116321, số IMEI 2: 358686414051031; bên trong gắn 01 thẻ SIM số 0375.394.753, trên thẻ sim có dây số: 8984048831004409762 được niêm phong trong bì ký hiệu A3 thu giữ của H;

- 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A03, số IMEI 1: 350165828673134; số IMEI2: 3503931786733138; bên trong gắn 02 thẻ sim có các dãy số: 89840509211617844180; 8984048008829574362 được niêm phong trong bị niêm phong ký hiệu A4 thu giữ của H1.

- Trả lại cho bị cáo T1 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone14 Promax, màu tím, số IMEI: 357650619403265, số IMEI2: 357650418528582 bên trong gần 02 thẻ SIM, trên thẻ SIM có các dãy số: 59840200022294161034; 89840480009420867267 được niêm phong trong bì ký hiệu A2 thu giữ của T1;

- Trả lại cho ông Đỗ Phúc T: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng, số IMEI 1: 353967817055265; số IMEI 2: 353967817265526; bên trong gắn thẻ SIM số 0848.886.446, trên thẻ sim có các dãy số: 89840200010821859071 được niêm phong trong bì ký hiệu A5 thu giữ của T. Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 98 ngày 28/01/2026 giữa Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Thái Nguyên.

7. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Nguyễn Lâm T, Nguyễn Mạnh H, Hoàng Văn H1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

8. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ