vanban.org

Bản án 32/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mùa A C phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025, xử phạt bị cáo Mùa A C 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 18 (mười tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa A C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mùa A C phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN
______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2026/HS-ST
Ngày: 05-02-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sao

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Chảo Phù Hiển

2. Bà Lò Thị Lên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Tố Uyên – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 5 – Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Điêu Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Điện Biên và điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam Nà Hỳ, Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Mùa A C; sinh ngày 02 tháng 5 năm 1976 tại tỉnh Điện Biên; Nơi thường trú: Bản P, xã N, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số căn cước: 01107600xxx, ngày cấp: 05/8/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an; Con ông Mùa Chùng T (đã chết) và bà Giàng Thị Ph. Bị cáo có vợ là Giàng Thị D và 07 người con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Nhân thân: Bị cáo chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/10/2025, sau đó bị tạm giam từ ngày 18/10/2025 cho đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Mùa A C: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền, sinh năm 1992 là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

Người phiên dịch: Bà Vàng Thị Dính, sinh năm 1988, địa chỉ: Bản Nà Hỳ 3, xã Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, có mặt.

Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần: Ông Lò Văn Hương – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 00 phút, ngày 12/10/2025, tổ công tác Đồn Biên phòng N, phối hợp với Phòng Nghiệp vụ Ban Chỉ huy Đồn Biên phòng tỉnh Điện Biên và Công an xã N, tỉnh Điện Biên đang làm nhiệm vụ tại khu vực giữa Mốc 55 và Mốc 56 biên giới Việt Nam – Lào, thuộc bản P, xã N, tỉnh Điện Biên, phát hiện Mùa A C đang đi bộ từ hướng biên giới về hướng tổ công tác có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nên đã yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Sau khi nghe tổ công tác giải thích, Mùa A C đã tự giác lấy từ trong túi áo ngực bên phải đang mặc 01 gói nilon màu hồng, miệng gói được buộc thắt nút, bên trong có 04 túi nilon màu xanh, miệng các túi đều có nẹp nhựa bấm cố định, bên trong các túi nilon màu xanh đều có các viên nén màu đỏ, trên mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là ma túy và 01 gói nilon màu trắng, miệng gói được buộc thắt nút, bên trong có chứa cục chất bột màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác đã đưa Mùa A C về Đồn Biên phòng N, đồng thời mời người chứng kiến, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng của Mùa A C.

Quá trình điều tra Mùa A C khai nhận: Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 12/10/2025, Mùa A C đi bộ từ lán nương của gia đình ở cuối bản P, xã N, tỉnh Điện Biên để đi kiểm tra đàn trâu của gia đình và tìm mua ma túy. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, C gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết trên đường. Qua trao đổi, C đã mua 04 túi ma túy tổng hợp của người đàn ông này với giá 2.400.000 đồng để sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Sau đó, C xin thêm 01 gói Heroine của ông ta để cho trâu của gia đình C sử dụng. Đến 20 giờ ngày 12/10/2025 khi C đang trên đường đi bộ về lán nương thì gặp tổ công tác Đồn Biên phòng N, Đồn Biên phòng tỉnh Điện Biên và Công an xã N đang làm nhiệm vụ, kiểm tra phát hiện thu giữ 05 gói ma túy của C.

Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong chất ma túy; niêm phong mẫu giám định và niêm phong vật chứng, đồ vật, tài liệu còn lại ngày 13/10/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên xác định: 04 túi viên nén màu đỏ (ký hiệu lần lượt từ M1 đến M4) thu giữ của Mùa A C có tổng khối lượng 86,19 (tám mươi sáu phẩy mười chín) gam, gửi toàn bộ giám định. Cục, bột màu trắng thu giữ của Mùa A C có khối lượng 0,55 (không phẩy năm mươi lăm) gam, gửi toàn bộ giám định (ký hiệu M5).

Tại Kết luận giám định số 1022/KL-KTHS, ngày 17/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên kết luận: “Vật chứng gửi giám định thu giữ của Mùa A C ký hiệu M1, M2, M3, M4 có tổng khối lượng 86,19 gam là chất ma túy: Loại Methamphetamine; ký hiệu M5 có khối lượng 0,55 gam là chất ma túy: Loại Heroin (Heroine).”

Tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKSĐB-P1 ngày 29/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Mùa A C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.

Tại phiên tòa, bị cáo Mùa A C một lần nữa đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Điện Biên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Mùa A C về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025; đề nghị xử phạt bị cáo Mùa A C từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 17 (mười bẩy) năm tù đến 18 (mười tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt tù của 02 tội đối với bị cáo. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án là 0,49 gam Heroine và 83,5 gam Methamphetamine hoàn lại sau khi lấy mẫu giám định và các túi nilon và các mảnh nilon. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Mùa A C nhất trí với Cáo trạng cũng như luận tội của Kiểm sát viên. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nhân thân và hoàn cảnh gia đình của bị cáo để xử phạt tù bị cáo mức thấp nhất trong các đề nghị của Kiểm sát viên. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo Mùa A C không có ý kiến tranh luận gì. Khi nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Mùa A C thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Vào hồi 20 giờ 00 phút, ngày 12/10/2025, tại khu vực giữa Mốc 55 và Mốc 56 biên giới Việt Nam – Lào, thuộc bản P, xã N, tỉnh Điện Biên, bị cáo Mùa A C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,55 (không phẩy năm mươi lăm) gam Heroine để sử dụng và 86,19 (tám mươi sáu phẩy mười chín) gam Methamphetamine để sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố (BL 72-87; 99-100), phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-02), vật chứng thu giữ (BL 03), Kết luận giám định (BL 32) và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Không có chứng cứ nào chứng minh bị cáo không phạm tội.

Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Mùa A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Tại điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 quy định:

“3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:…

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;”

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nghiêm trọng, có tính chất và nguy hiểm cho xã hội lớn. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn. Hành vi tàng trữ và hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn xã N, vì ma túy không chỉ hủy hoại sức khỏe của con người, mà còn là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích lợi nhuận và sử dụng ma túy đã cố ý phạm tội.

Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Khi bị bắt giữ và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu ở trên, xét thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, để bị cáo cải tạo bản thân và làm gương răn đe, giáo dục trong Nhân dân.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 6 Điều 251 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo là người nghiện ma túy, nghề nghiệp chính là làm nông nghiệp, thu nhập không ổn định, bản thân bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, gia đình thuộc diện hộ nghèo nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Vật chứng là 0,49 (không phẩy bốn mươi chín) gam Heroine và 83,5 (tám mươi ba phẩy lăm) gam Methamphetamine hoàn lại sau khi giám định là vật cấm lưu hành, tàng trữ và các túi nilon, mảnh nilon, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tịch thu tiêu hủy như đề nghị của Kiểm sát viên.

Xét đề nghị của người bào chữa: Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung Cáo trạng cũng như luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật, mức hình phạt áp dụng, xử lý vật chứng, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhân thân và hoàn cảnh gia đình, xem xét xử phạt bị cáo mức thấp nhất trong các đề nghị của Kiểm sát viên. Xét thấy, đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, khối lượng Methamphetamine bị cáo có ý định bán lại cho người khác ở mức cao của khung hình phạt nên cần phải áp dụng mức cao nhất trong đề nghị của Kiểm sát viên, để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật nên không chấp nhận đề nghị của người bảo chữa. Đối với các đề nghị khác là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Điện Biên, Kiểm sát viên và người bào chữa, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong vụ án Mùa A C khai đã mua ma túy của 01 người đàn ông dân tộc Mông vào ngày 12/10/2025 tại khu vực biên giới thuộc địa phận bản P, xã N, tỉnh Điện Biên. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ của người đàn ông này ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên không có căn cứ để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Tại phiên tòa bị cáo Mùa A C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số sống tại xã N, tỉnh Điện Biên là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và gia đình thuộc diện hộ nghèo nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mùa A C phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025, xử phạt bị cáo Mùa A C 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 18 (mười tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội là 21 (hai mươi mốt) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 12/10/2025.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 83,5 (tám mươi ba phẩy lăm) gam Methamphetamine và 0,49 (không phẩy bốn mươi chín) gam Heroine hoàn lại sau khi đã giám định, 04 túi nilon màu xanh, 01 túi nilon màu hồng và 01 mảnh nilon màu trắng.

(Vật chứng gồm 02 khoản được niêm phong như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 – Điện Biên).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mùa A C.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Mùa A C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 05/02/2026./.

Cỡ chữ