- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ba Trầm Văn V - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trầm Văn V phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma tuý
- Căn cứ chính? Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2026/HS -ST Ngày 06- 02-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Triệu Hồng Hạnh
Bà Chu Thị Bời
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Mai Hương - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 2 - Lạng Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2026/TLST - HS ngày 23 tháng 01 năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực 2 - Lạng Sơn đối với bị cáo:
Họ và tên: TRẦM VĂN V. Tên gọi khác: Không, sinh ngày 25 tháng 06 năm 1989 tại: xã N, tỉnh L; trú tại: Thôn K, xã N, tỉnh L; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trầm Văn T; Con bà: Vũ Thị V; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Bị cáo chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam Na Sầm từ ngày 10/10/2025 đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 09/10/2025, Tổ công tác Công an xã Na Sầm làm nhiệm vụ tại thôn Nà Mạt, xã Na Sầm, tỉnh Lạng Sơn phát hiện Trầm Văn V có biểu hiện phạm tội về ma túy. Khi thấy Tổ công tác, Trầm Văn V đã bỏ chạy, Tổ công tác truy đuổi bắt và đưa Trầm Văn V về trụ sở Công an xã Na Sầm để làm rõ sự việc. Tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể đối với Trầm Văn V, kết quả Trầm Văn V dương tính với chất ma túy dạng MOP. Tại cơ quan điều tra, Trầm Văn V khai nhận: Bản thân nghiện ma túy từ năm 2020. Ngày 12/8/2022, Trầm Văn V đăng ký điều trị nghiện các chất dạng ma túy bằng chất thay thế Methadone tại Trung tâm y tế huyện Văn Lãng (nay là Trung tâm y tế khu vực Văn Lãng), đến ngày 27/9/2024 thì tự ý chấm dứt điều trị. Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 08/10/2025, Trầm Văn V đi đến khu vực thôn Nà Kéo Mới, xã Hoàng Văn Thụ, tỉnh Lạng Sơn gặp và mua 100.000 đồng ma túy Heroin với một người đàn ông khoảng 35 tuổi, dáng cao, gầy (không biết tên, tuổi, địa chỉ) được 01 gói ma túy Heroin với mục đích để sử dụng. Sau đó V đi đến khu vực bờ suối thôn Nà Mạt, xã Na Sầm, tỉnh Lạng Sơn để sử dụng hết số ma túy đã mua bằng hình thức hút. Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 09/10/2025, khi đang đi bộ trên đường thuộc thôn Nà Mạt, xã Na Sầm, tỉnh Lạng Sơn, Trầm Văn V bị Công an xã Na Sầm phát hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 1802/KL-KTHS ngày 10/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Mẫu nước tiểu ghi thu của Trầm Văn V, sinh năm 1989, HKTT: Khun Pinh, xã Na Sầm, tỉnh Lạng Sơn gửi giám định có tìm thấy Morphine và 6-MAM (6-Monoacetylmorphine) là sản phẩm chuyển hóa Heroin (Heroine)”.
Cáo trạng số: 41/CT-VKS-KV2 ngày 25 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lạng Sơn truy tố bị cáo Trầm Văn V về tội: Sử dụng trái phép chất ma tuý, theo quy định tại d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lạng Sơn thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo về tội danh như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh và hình phạt:
Áp dụng: Điểm d khoản 1 Điều 256a; Điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trầm Văn V từ đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội: Sử dụng trái phép chất ma tuý
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Không có.
Tại phần tranh luận không ai có ý kiến gì tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm có cơ hội quay lại với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của những Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử xác định: Trầm Văn V là đối tượng đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy, từ ngày 27/9/2024. Tuy nhiên, V lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 08/10/2025 tại khu vực bờ suối thuộc thôn Nà Mạt, xã Na Sầm, tỉnh Lạng Sơn. Kết luận giám định xác định tìm thấy Morphine và 6-MAM (6-Monoacetylmorphine) là sản phẩm chuyển hóa Heroin (Heroine) trong mẫu nước tiểu thu giữ của Trầm Văn V. Do vậy bị cáo đã phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự
Về tính chất, hậu quả mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được hành vi của mình nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo không những ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của bị cáo mà còn xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội; ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc là nguy cơ tiềm ẩn phát sinh các loại tội phạm mới. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt ngoài việc xem xét tính chất, mức độ hành vi của việc phạm tội còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt mới tương xứng với hành vi mà bị cáo gây ra.
Về nhân thân: Trầm Văn V là đối tượng nghiện ma túy, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án lần nào.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay thể hiện bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Không có vật chứng để xem xét.
Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử nhận thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định. Cho bị cáo đi cải tạo tập trung để bị cáo nhận thức được hành vi của mình, đồng thời giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, răn đe những ai có ý định phạm tội tương tự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 135, khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 256a; Điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 106; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trầm Văn V phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma tuý
2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trầm Văn V 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù, tính từ ngày10/10/2025.
3.Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - CQ Điều tra CA tỉnh Lạng Sơn - CQ THAHS tỉnh Lạng Sơn; - VKSND KV2; - Phòng THADS KV 2; - UBND xã Na Sầm; - Bị cáo; - Lưu HSVA. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ. THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Hoàng Văn Bình |