- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M và đồng bọn phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Công T1, Nguyễn Văn L, Lê Phước S, Nguyễn Văn M và Nguyễn Hoàng G2 phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:32/2026/HS-ST Ngày:10/02/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đình Khoa
Bà Nguyễn Thị Thọ
Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thắm – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 12- Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12- Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng - Kiểm sát viên. Trong các ngày 05 tháng 02 năm 2026 và ngày 10 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12- Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 118/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2025, Thông báo hoãn phiên tòa số 14/2026/TB-TA ngày 26 tháng 01 năm 2026 và Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 04/2026/QĐ-TA ngày 05 tháng 02 năm 2026; đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn M, sinh ngày 25 tháng 5 năm 1988 tại tỉnh An Giang; giới tính: Nam; tên gọi khác: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 02/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã H, tỉnh An Giang; nơi sinh sống: Khu phố Ô, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1961; gia đình có 3 anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo có vợ và 04 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt ngày 24/9/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an Thành phố H (Có mặt).
2. Nguyễn Văn L, tên gọi khác: không; sinh ngày 16 tháng 10 năm 1988 tại tỉnh An Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Hòa Hảo; trình độ học vấn: 05/12; nghề nghiệp: lao động tự do; hộ khẩu thường trú: ấp L, xã T, tỉnh An Giang; địa chỉ: Khu phố P, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh; con ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1969 và con bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1966; gia đình có 5 anh em, bị cáo là con thứ ba; bị cáo có vợ và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt ngày 24/9/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an Thành phố H (Có mặt).
3. Nguyễn Văn G, tên gọi khác: không; sinh ngày 16 tháng 02 năm 1986 tại tỉnh An Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Hòa Hảo; trình độ học vấn: 05/12; nghề nghiệp: lao động tự do; hộ khẩu thường trú: Ấp V, xã V, tỉnh An Giang; địa chỉ: Khu phố Ô, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; con ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1969 và con bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1966; gia đình có 5 anh em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo có vợ và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 21/01/2023, bị Công an xã V, huyện A, tỉnh An Giang (nay là xã V, tỉnh An Giang) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép theo Quyết định xử phạt hành chính số 0010271 ngày 20-02-2023 của Công an xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
Bị cáo bị bắt ngày 24/9/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an Thành phố H (Có mặt).
4. Nguyễn Công T1, tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh ngày 28 tháng 02 năm 1982 tại Đà Nẵng; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; hộ khẩu thường trú và địa chỉ sinh sống: Khu phố Ông T2, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; con ông Nguyễn Công T3, sinh năm 1957 và con bà Lê Thị T4, sinh năm 1958; gia đình có 4 anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo có vợ và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt ngày 24/9/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an Thành phố H (Có mặt).
5. Lê Phước S, tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh ngày 19 tháng 02 năm 1989 tại tỉnh Đồng Tháp; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 02/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; hộ khẩu thường trú và địa chỉ sinh sống: Khu phố T, phường T,Thành phố Hồ Chí Minh; con ông Lê Văn G1, sinh năm 1960 và con bà Nguyễn Thị Kim T5, sinh năm 1961; gia đình có 3 anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo có vợ và có 07 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 21/6/2016, bị Công an huyện T, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc trái phép theo Quyết định xử phạt hành chính số 145/QĐ-XPVPHC-CAH-ĐTHS ngày 18-9-2015.
Bị cáo bị bắt ngày 24/9/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an Thành phố H (Có mặt).
6. Nguyễn Hoàng G2, tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh ngày 09 tháng 7 năm 1999 tại tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 0/12; nghề nghiệp:Lao động tự do; hộ khẩu thường trú và địa chỉ sinh sống: Khu phố Ông T2, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1974 và con bà Lê Ngọc P1, sinh năm 1976; gia đình có 4 anh em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt ngày 24/9/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an Thành phố H (Có mặt).
Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Thanh T6, sinh năm 1966
Địa chỉ: Khu phố Ô, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
2. Ông Bùi Văn T7, sinh năm 1993
Địa chỉ: Tổ A, khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
3. Ông Phan Văn S1, sinh năm 1980
Địa chỉ: Khu phố Ô, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
4. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1974
Địa chỉ: Khu phố Ô, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
5. Ông Nguyễn Thanh V, sinh năm 1973
Địa chỉ: Khu phố Ô, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào trưa ngày 14/9/2025, Nguyễn Văn M, sinh năm 1988 liên hệ với Nguyễn Văn G, sinh năm 1986 và Nguyễn Công T1, sinh năm 1982 rủ đá gà cá cược thắng thua bằng tiền và được cả hai đồng ý tham gia. Sau đó, khoảng 12 giờ tại bãi đất trống thuộc tổ A, khu phố Ô, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, V mang theo một con gà trống màu trắng chấm đen gọi là gà bướm; T1 mang theo một con gà trống lông màu vàng gọi là gà khét; M chuẩn bị băng keo dùng 01 (một) chiếc cân loại 05kg, cân và xác định cả 02 (hai) con gà đều nặng 2,8kg (hai phẩy tám kilogam).
Cùng thời điểm trên, Nguyễn Văn G rủ em ruột là Nguyễn Văn L cùng tham gia đá gà ăn tiền, do L không có mặt tại địa điểm diễn ra trận đá gà nên Văn G quay trực tiếp toàn bộ trận đá gà từ ứng dụng Zalo cho L xem; Lê Phước S, sinh năm 1989 cũng đến địa điểm trên để tham gia cá cược. M đưa băng keo cho Văn G để tự băng cựa, do T1 không biết băng cựa nên M băng cựa gà giúp T1. M đứng ra làm trọng tài, Văn G và L chọn con gà bướm để đá, T1 và S chọn con gà khét để đá; các bên thống nhất số tiền cược thông qua M, cụ thể số tiền cược như sau: Văn Giang cược 3.000.000 đồng; Lặng cược 1.000.000 đồng; T1 cược 3.000.000 đồng; Phước S cược 1.000.000 đồng; tổng số tiền các bên tham gia cá cược là 8.000.000 đồng. Khi vào trận do không biết thả gà nên T1 nhờ Nguyễn Hoàng G2, sinh năm 1999 ôm thả gà.
Sau khoảng 13 (mười ba) phút, gà của Văn G thua, Văn G nhờ Lặng chuyển khoản cho M qua số tài khoản 0794435234 tại Ngân hàng TMCP Q số tiền 5.000.000 đồng từ tài khoản có tên NGUYEN VAN LANG gồm 1.000.000 đồng tiền trả nợ, 3.000.000 đồng tiền Văn Giang cá cược và 1.000.000 đồng tiền Lặng cá cược. Sau đó M tiếp tục chuyển số tiền này vào tài khoản số 57223459 tại Ngân hàng TMCP Á của T1. T1 đưa lại cho M 200.000 đồng tiền công trọng tài, đưa Phước S 1.000.000 đồng tiền thắng cược, H 200.000 đồng tiền công thả gà. Các đối tượng đang sắp xếp cho trận đá gà tiếp theo thì bị Phòng C3 Công an Thành phố H phát hiện thu giữ 02 (hai) con gà, 02 (hai) cặp cựa bằng kim loại, 01 (một) đồ mài cựa gà và làm việc với 19 (mười chín) đối tượng, gồm: Phan Văn S1, Trần Văn H1, Lê Phước S, Nguyễn Duy T8, Nguyễn Văn P, Nguyễn Thanh V, Huỳnh Tuấn A, Nguyễn Văn G, Lê Văn C, Đặng Văn T9, Đặng Văn T10, Nguyễn Hồng C1, Nguyễn Ngọc C2, Bùi Văn T7, Lê Văn L1, Nguyễn Thanh T6, Từ K, Trần Anh D, Đặng Văn L2. Riêng Nguyễn Văn M đầu thú ngày 15/9/2025, Nguyễn Công T1 đầu thú ngày 16/9/2025, Nguyễn Hoàng G2 đầu thú ngày 15/9/2025, Nguyễn Văn L đầu thú ngày 18/9/2025.
Về vật chứng, đồ vật tạm giữ:
- Đối với 02 (hai) con gà, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành tiêu hủy;
- 04 (bốn) cựa gà bằng kim loại màu trắng dài khoảng 7,5cm;
- 01 (một) đá mài cựa gà dài khoảng 5,3cm;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A12, tên kiểu thiết bị SM-A127F/DS, IMEI 357026895313256, màu xanh, đã qua sử dụng;
-01 (một) điện thoại di động OPPO, Model CPH2711, IMEI 869386077217175, màu xám đen, đã qua sử dụng.
Các vật chứng nêu trên chuyển đến Thi hành án dân sự Thành phố H chờ xử lý theo quy định.
Tại Bản cáo trạng số 223/CT-VKSTPHCM-P2 ngày 27 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Công T1, Nguyễn Văn L, Lê Phước S, Nguyễn Văn M và Nguyễn Hoàng G2 tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Công T1, Nguyễn Văn L, Lê Phước S, Nguyễn Văn M và Nguyễn Hoàng G2 phạm tội phạm tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm s, i Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Công T1, Nguyễn Hoàng G2, Nguyễn Văn L, Nguyễn Phước S2. Áp dụng điểm s, i Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn G.
Xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Công T1, Nguyễn Văn G, Nguyễn Phước S2, Nguyễn Văn L, Nguyễn Hoàng G2 từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A12, tên kiểu thiết bị SM-A127F/DS, IMEI 357026895313256, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động OPPO, Model CPH2711, IMEI 869386077217175, màu xám đen, đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy 04 (bốn) cựa gà bằng kim loại màu trắng dài khoảng 7,5cm; 01 (một) đá mài cựa gà dài khoảng 5,3cm;
Đối với số tiền thu lợi bất chính của các bị cáo đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Tại phiên tòa, bị cáo M cho rằng sau khi đi làm về thì bị cáo M rủ các bị cáo khác đá gà cho vui, bị cáo không nhận lợi ích vật chất gì; bị cáo Hoàng G2 cho rằng bị cáo thấy có đá gà nên xem cho vui, không giúp sức cho T1 tuy nhiên sau đó bị cáo M, bị cáo Hoàng G2 và các bị cáo khác đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận gì, lời nói sau cùng các bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Người làm chứng ông Nguyễn Văn P trình bày: ngày 14/9/2025, sau khi đi làm về ông thấy có tổ chức đá gà tại bãi đất trống thuộc tổ A, khu phố Ô, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; ông có cá cược 200.000 đồng với người đàn ông không rõ lai lịch; kết quả ông thắng cược. Sau khi trận đá gà kết thúc thì thấy công an tới kiểm tra và đưa ông về trụ sở làm việc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo khẳng định những lời khai tại cơ quan điều tra là tự nguyện, đúng sự thật, không bị ép cung, mớm cung hoặc nhục hình; kết hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được làm rõ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ để kết luận các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:
Sau khi được Nguyễn Văn M liên hệ rủ rê tham gia đá gà cá cược thắng thua bằng tiền, khoảng 12 giờ ngày 14/9/2025, Nguyễn Văn G và Nguyễn Công T1 mang gà đến tại bãi đất trống thuộc tổ A, khu phố Ô, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh để tham gia đá gà. Tại thời điểm trên còn có Nguyễn Văn L (xem qua zalo), Lê Phước S cùng tham gia cá cược. Khi đó, các bên cá cược qua M với số tiền cụ thể: T1 cược 3.000.000 đồng, Phước S cược 1.000.000 đồng; Văn Giang cược 3.000.000 đồng; Lặng cược 1.000.000 đồng; tổng số tiền các bên tham gia cá cược là 8.000.000 đồng. Nguyễn Hoàng G2 giúp sức ôm thả gà cho T1, M làm trọng tài xác định thắng thua với thù lao 200.000 đồng.
Kết quả Nguyễn Văn G, Nguyễn Văn L thua số tiền đã cược; Lê Phước S thắng và nhận được 1.000.000 đồng. Nguyễn Công T1 thắng và nhận được 3.000.000 đồng; T1 đưa cho M thù lao làm trọng tài và H tiền giúp sức thả gà đá mỗi người 200.000 đồng.
Nguyễn Văn M là người rủ rê T1 và Văn G tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà cá cược thắng thua bằng tiền, tổ chức một chiếu bạc với số lượng con bạc tham gia dưới 10 người, định lượng số tiền đánh bạc dưới 20.000.000 đồng, không có tổ chức nơi cầm cố tài sản, không lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc; không có sự phân công người canh gác, phục vụ và bị cáo M chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc. Nguyễn Văn M có hành vi chuẩn bị băng keo và cân để cho đồng bọn đánh bạc, băng cựa gà giúp T1 và thu lợi bất chính số tiền 200.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xác định bị cáo M phạm tội “Đánh bạc” với vai trò đồng phạm là phù hợp.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, các bị cáo đồng ý với tội danh mà Đại diện Viện kiểm sát đã truy tố, các bị cáo nhận thức được hành vi thực hiện là vi phạm pháp luật nên các bị cáo không tranh luận và bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.
Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Công T1, Nguyễn Văn L, Lê Phước S, Nguyễn Văn M và Nguyễn Hoàng G2 đã phạm tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025 như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 321 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
.Các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Công T1, Nguyễn Văn L, Lê Phước S, Nguyễn Văn M và Nguyễn Hoàng G2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên các bị cáo Lê Phước S, Nguyễn Văn G có nhân thân xấu từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 145/QĐ-XPVPHC-CAH-ĐTHS ngày 18/9/2015 của Công an huyện T, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (đối với S) và số 0010271 ngày 20/02/2023 của Công an xã V, huyện A, tỉnh An Giang (đối với G) nhưng các bị cáo không có ý thức tu sửa bản thân mà vẫn tiếp tục có hành vi đánh bạc trái phép.
. Về các tình tiết giảm nhẹ:
. Các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Công T1, Nguyễn Văn L, Lê Phước S, Nguyễn Văn M và Nguyễn Hoàng G2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
Các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Công T1, Nguyễn Văn L, Lê Phước S trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Hoàng G2 tại phiên tòa có nhiều lời khai quanh co, không thống nhất tuy nhiên sau đó đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo M và bị cáo Hoàng G2 ở mức phù hợp với mức độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải của các bị cáo.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy rằng có căn cứ cho các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Công T1, Nguyễn Văn L, Lê Phước S, Nguyễn Văn M và Nguyễn Hoàng G2 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.
. Các bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Hoàng G2, Nguyễn Văn L đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.
Bị cáo Lê Phước S là lao động chính trong gia đình, có 07 con nhỏ, con nhỏ nhất sinh năm 2024, bố mẹ già yếu thường xuyên ốm đau có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo Nguyễn Công T1 đầu thú, là lao động chính trong gia đình đồng thời cũng đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.
. Về áp dụng hình phạt đối với các bị cáo:
. Hành vi nêu trên của các bị cáo xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận trong nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội. Các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc, không có bàn bạc, không có sự phân công vai trò, nhiệm vụ của từng người. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025 thì: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Hội đồng xét xử thấy rằng các bị cáo là lao đông tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- 02 (hai) con gà trống đã bị chết ngay tại thời điểm cơ quan điều tra lập biên bản vụ việc (ngày 14/9/2025) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành tiêu hủy là phù hợp quy định pháp luật.
- 04 (bốn) cựa gà bằng kim loại màu trắng dài khoảng 7,5cm; 01 (một) đá mài cựa gà dài khoảng 5,3cm không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A12, tên kiểu thiết bị SM-A127F/DS, IMEI 357026895313256, màu xanh, đã qua sử dụng của bị cáo M; 01 (một) điện thoại di động OPPO, Model CPH2711, IMEI 869386077217175, màu xám đen, đã qua sử dụng của bị cáo Văn G đều sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi đánh bạc là công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào công quỹ.
- Đối với số tiền các bị cáo thu lợi bất chính, cụ thể bị cáo S 1.000.000 đồng; bị cáo Hoàng G2 200.000 đồng; bị cáo T1 2.600.000 đồng; bị cáo M 200.000 đồng, đây là tiền do phạm tội mà có do đó cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền trên.
Các vấn đề khác:
Phan Văn S1, Nguyễn Văn P, Nguyễn Thanh T6, Bùi Văn T7 tự cược tiền tham gia đánh bạc với đối tượng khác nhưng không thông qua Nguyễn Văn M; cụ thể: V, T7 và P cá cược 200.000 đồng; Tồn cá cược 100.000 đồng đều dưới mức định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự. Đồng thời các đối tượng này không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc nên việc Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự trong vụ án này mà xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc là phù hợp quy định pháp luật.
Đối với Trần Anh D, Huỳnh Tuấn A, Đặng Văn T9, Từ K, Lê Văn C, Nguyễn Hồng C1, Lê Văn L1, Nguyễn Ngọc C2, Đặng Văn T10, Trần Văn H1, Đặng Văn L2, Nguyễn Duy T8 có mặt tại thời điểm lực lượng Công an bắt quả tang các bị cáo về hành vi đánh bạc nhưng qua điều tra, xác định được các đối tượng trên chỉ xem, không tham gia đánh bạc nên cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp quy định pháp luật.
Đối với tin báo về hành vi giao cấu của Lê Phước S với Nguyễn Cao Thảo N (sinh ngày 02/4/1995) vào khoảng thời gian tháng 06/2010, hậu quả Nguyễn Cao Thảo N mang thai, sinh cháu Lê Thanh V1 ngày 22/4/2011, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ theo quy định pháp luật.
Về án phí:
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Công T1, Nguyễn Văn L, Lê Phước S, Nguyễn Văn M và Nguyễn Hoàng G2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Công T1, Nguyễn Văn L, Lê Phước S, Nguyễn Văn M và Nguyễn Hoàng G2 phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321; điểm i,s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/9/2025.
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321; điểm i,s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/9/2025.
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321; điểm i,s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/9/2025.
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321; điểm i,s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.
Xử phạt bị cáo Lê Phước S 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/9/2025.
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321; điểm i,s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự,sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng G2 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/9/2025.
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321; điểm i,s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công T1 04 (bốn) tháng 20 (hai mươi) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/9/2025.
Áp dụng Khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên trả tự do cho bị cáo Nguyễn Công T1 ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị giam giữ về một tội phạm khác.
2. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Công T1, Nguyễn Văn L, Lê Phước S, Nguyễn Văn M và Nguyễn Hoàng G2.
3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 04 (bốn) cựa gà bằng kim loại màu trắng dài khoảng 7,5cm; 01 (một) đá mài cựa gà dài khoảng 5,3cm;
- Tịch thu sung vào công quỹ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A12, tên kiểu thiết bị SM-A127F/DS, IMEI 357026895313256, màu xanh; 01 (một) điện thoại di động OPPO, Modnel CPH2711, IMEI 869386077217175, màu xám đen.
(Vật chứng được lưu giữ tại Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 25/BB-THADS(12)ngày 01/12/2025).
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước của các bị cáo số tiền sau: Nguyễn Phước S2 1.000.000đ (một triệu đồng); Nguyễn Hoàng G2 200.000đ (hai trăm ngàn đồng); Nguyễn Văn M 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) và Nguyễn Công T1 2.600.000đ (hai triệu sáu trăm ngàn đồng)- bị cáo T1 đã nộp số tiền trên theo Biên lai thu tiền số 0002567 ngày 10/02/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố H.
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Công T1, Nguyễn Văn L, Lê Phước S, Nguyễn Văn M và Nguyễn Hoàng G2 mỗi người phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10-02-2026), các bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; -VKSND KV 12- TP.HCM; - VKSND TP.HCM; -Công an TP.HCM (PV 06; PC10); -Thi hành án dân sự TP.HCM; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú, - Lưu hồ sơ vụ án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Thị Thọ Trần Đình Khoa | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hoa THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hoa |