vanban.org

Bản án 32/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo NTK 03 (Ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 05 (Năm) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/01/2026)

Giao bị cáo NTK cho Uỷ ban nhân dân phường QV, tỉnh BN giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Thị Khoát phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo NTK 03 (Ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 05 (Năm) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/01/2026)
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1- BN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2026/HS-ST
Ngày 29-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- BN, TỈNH BN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Môn và bà Hoàng Thị Hồng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- BN.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- BN tham gia phiên tòa: Bà

Hoàng Ngọc Nương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân khu vực 1-BN, tỉnh BN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2026/TLST-HS ngày 06/01/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2026/QĐXXST-HS ngày 14/01/2026 đối với bị cáo: NTK, sinh năm 1971; nơi thường trú: Khu phố XT, phường QV, tỉnh BN; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; nghề nghiệp: tự do; Văn hoá: 07/10; con ông NVK, sinh năm 1948 và bà NTL, sinh năm 1948; chồng là DDQ, sinh năm 1970 (đã chết) và có 02 con, con lớn sinh 1992, con nhỏ sinh 1994; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. (Có mặt)

- Bị hại: Anh DVH, sinh năm 1990 (đã chết); nơi cư trú: Tổ dân phố 5, phường YD, tỉnh BN.

Người đại diện theo pháp luật của anh DVH gồm:

- Ông DVY, sinh năm 1964. (Vắng mặt)

- Bà O T L, sinh năm 1965. (Có mặt)

- Chị DTB, sinh năm 1990. (Vắng mặt)

- Cháu DTBN, sinh năm 2012, cháu D V P, sinh năm 2015 và cháu D V A, sinh năm 2025 do mẹ đẻ là chị DTB, sinh năm 1990 đại diện theo pháp luật. (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố 5, phường YD, tỉnh BN.

- Người chứng kiến: Chị NTT, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ dân phố 5, phường YD, tỉnh BN. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: NTK có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh BN cấp. Khoảng 19 giờ ngày 12/6/2025, K điều khiển xe mô tô biển số 99E1-234.55 đi đến nhà con gái là chị DTK, sinh năm 1992 ở tổ dân phố Liễu Nham, phường YD, tỉnh BN để thăm cháu ngoại. Đến khoảng hơn 21 giờ cùng ngày, K điều khiển xe mô tô biển số 99E1-234.55 đi về nhà với tốc độ khoảng 50km/giờ. Khi K điều khiển xe đi đến đoạn đường Trần Nhân Tông thuộc tổ dân phố số 5, phường YD, tỉnh BN (gần cổng Trung tâm y tế BN số 1) thì có 01 chiếc xe ô tô đi phía trước cùng chiều, khi xe ô tô này vừa đi qua cổng Trung tâm y tế BN số 1 thì K điều khiển xe mô tô đi đến vị trí vạch kẻ đường giảm tốc. Thời điểm này, anh DVH đang đi bộ sang đường. Do không làm chủ tốc độ nên xe mô tô do K điều khiển đã đâm vào A H. Hậu quả làm A H bị ngã ra đường bất tỉnh, xe mô tô của K bị đổ xuống đường.

Sau khi xảy ra tai nạn, chị NTT cùng một số người dân đã đến đỡ K dậy và đưa A H đến Trung tâm y tế BN số 1 cấp cứu. Sau đó, K điều khiển xe mô tô rời khỏi hiện trường đi về Trạm y tế phường Q T, tỉnh BN sơ cứu sau đó đến Bệnh viện đa khoa tỉnh BN điều trị. Trong thời gian này, K không trình báo cơ quan chức năng về việc gây ra vụ tai nạn. Đối với A H bị thương nặng đến ngày 13/6/2025 thì bị chết.

Ngày 24/6/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh BN xác minh, xác định NTK điều khiển xe gây tai nạn làm A H bị chết. K khai nhận diễn biến xảy ra vụ tai nạn như nêu trên.

Kết quả giám định hóa pháp của Viện Pháp y Quân đội- Cục Quân Y xác định không tìm thấy Ethanol và các chất ma túy trong máu của anh DVH và của NTK. Kết quả xác minh tại Sở giao thông vận tải tỉnh BN xác định K có giấy phép lái xe hạng A1 số 241159001726 do Sở Giao thông vận tải tỉnh BN cấp ngày 08/2/2018.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn tại khu vực đối diện số nhà 49 đường Trần Nhân Tông, tổ dân phố số 5, phường YD, tỉnh BN. Đoạn trải nhựa áp phan phẳng rộng 10.15m, ở giữa có vạch kẻ sơn màu vàng dạng đứt quãng chia đường thành hai chiều xe chạy. Tại hiện trường có biển báo “Bệnh viện” (mã hiệu I.425) có vạch giảm tốc độ.

Khám nghiệm theo hướng từ cầu Bến Đám đi LDT, lấy mép đường bên phải theo chiều khám nghiệm làm mép chuẩn, lấy cột điện có ký hiệu 2.5/TK3 làm mốc cố định. Tiến hành đo đạc, khám nghiệm kết quả như sau:

Hệ thống dấu vết cày xước mặt đường dạng đứt quãng kích thước (0,7x7,40)m, chiều từ cầu Bến Đám đi đường LDT. Điểm đầu cách mép chuẩn 2,40m và cách mốc 13,6m. Điểm cuối cách mép chuẩn 2,04m và cách mốc 9,5m. (ký hiệu số 1)

Dấu vết màu nâu đỏ (nghi máu) kích thước (0,12x0,6)m, tâm cách mép chuẩn 0,4m, cách điểm đầu dấu vết số 1 là 3m. (ký hiệu số 2)

Các mảnh nhựa vỡ kích thước (0,6x0,22)m, tâm cách mép chuẩn 0,2m và cách tâm dấu vết 2 là 3,6m. (ký hiệu số 3)

Đám chất màu nâu đỏ (nghi máu) kích thước (2,95x1,75)m, tâm cách mép chuẩn 1,90 và cách tâm dấu vết 3 là 2,015m. (ký hiệu số 4)

Quá trình khám nghiệm hiện trường thu giữ 02 mẫu chất màu nâu đỏ tại vụ trí ký hiệu số 2 và số 4.

Ngày 17/9/2025, Cơ quan điều tra tiến hành dựng lại hiện trường nơi xảy ra vụ tại nạn. Kết quả phù hợp với các dấu vết ghi nhận được khi khám nghiệm hiện trường. Điểm cuối của dấu vết cầy xước mặt đường ký hiệu số 1 trùng với đầu tay nắm trái xe mô tô biển số 99E1-234.55 trong trạng thái đổ nghiêng trái.

* Kết quả khám nghiệm tử thi DVH:

- Khám ngoài: Vùng đầu quấn băng y tế màu trắng, tóc để trung bình, hai mắt khép, đồng tử hai bên giãn, hai lỗ tay khô, hai lỗ mũi và khoang miệng bám dính chất máu. Vùng trán phải và gò má phải có nhiều vết sây sát da, bầm tím trên diện (12x4)cm. Vùng chẩm hai bên có 03 vết rách da thẳng hàng nằm ngang, bờ mép nham nhở còn cầu tổ chức trên diện (4x0,5)cm, xung quanh sưng nề, bầm tím kích thước (9x6)cm. Mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải có diện sây sát da bầm tím kích thước (9x4)cm. Mu bàn tay trái có diện sây sát da trên diện (3x1)cm. Mặt trước trong 1/3 giữa cẳng chân phải có diện bầm tím da kích thước (5x2)cm. Mặt trước trong 1/3 giữa cẳng chân trái có diện bầm tím da kích thước (2,5x2,5)cm.Vùng thắt lưng hai bên có diện sây sát da bầm tím kích thước (12x7)cm. Sờ nắn kiểm tra thấy gãy cung trước xương sườn số 3, 4, 5 bên phải.

- Mổ tử thi: Kiểm tra vùng đầu qua vết thương vùng chẩm thấy dập rách tổ chức dưới da đầu, xung quanh vết thương bầm tụ máu tổ chức dưới da, qua đó có máu không đông chảy ra. Chọc hút bằng bơm kim tiêm khoang lồng ngực phải có nhiều máu không đông.

* Khám nghiệm xe mô tô biển số 99E1-234.55: Khuyết đèn pha trước. Ốp nhựa đầu xe có nhiều vết mài sát, dập vỡ khuyết nhựa bề mặt bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu dạng nhỏ giọt kích thước (46x20)cm. Cần gương chiếu hậu trái cong hướng từ trước về sau, cạnh trước cần chân gương có vết mài sát kim loại bám dính chất màu trắng dạng bột kích thước (2,5x1)cm; ốp cao su bảo vệ chân gương có vết mài sát rách cao su kích thước (4x1,5)cm. Mặt trước gáo gương chiếu hậu trái có vết mài sát nhựa kích thước (3,5x1,5)cm. Mặt nạ đầu xe bật chốt cố định, bề mặt có nhiều vết dập vỡ nhựa kích thước (15x11)cm. Đầu ngoài ốc trục bánh trước bên trái có vết mài sát kim loại bám dính chất màu trắng dạng bột kích thước (1x0,5)cm. Cánh yếm trái tại vị trí thấp nhất cách đất 26cm có vết vỡ khuyết nhựa. Đầu ngoài để chân sau bên trái có vết mài sát kim loại kích thước (2,5x1)cm. Mặt ngoài kính nhựa bảo vệ đèn xi nhan trước bên trái có vết mài sát kích thước (5,6x2,5)cm. Cần gương chiếu hậu phải xoay tự nhiên. Cánh yếm phải bật chốt cố định, bề mặt có vết dập vỡ nhựa, mài sát nhựa dạng đường song song kích thước (24x15)cm, điểm thấp nhất cách đất 55,5cm. Mặt lăn bánh trước bên phải có vết mài sát cao su sạch bụi kích thước (24x2)cm. Đầu ngoài trục bánh trước bên phải có vết mài sát kim loại bám bụi kích thước (1,2x1)cm. Cánh yếm trong bên phải có vết dập vỡ nhựa bề mặt bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu kích thước (34x17)cm. Giá thồ hàng giữa khung xe có bám dính chất màu nâu đỏ kích thước (13x13)cm. Mặt ngoài lõi máy bên phải bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu kích thước (16x6)cm, ốp nhựa sườn xe bên phải có bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu kích thước (30x16)cm.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định xác định nguyên nhân chết của anh DVH và cơ chế hình thành dấu vết trong vụ tai nạn giao thông. Kết luận giám định tử thi số 1580/KLGĐTT-KTHS ngày 31 tháng 7 năm 2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BN kết luận: Nguyên nhân chết của DVH do đa chấn thương: Chấn thương sọ não, chấn thương ngực kín.

Kết luận giám định số 1772/KL-KTHS ngày 12/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BN kết luận:

1. Dấu vết gãy vỡ khuyết, mài sát sơn, nhựa, kim loại tại ốp nhựa đầu xe, đèn chiếu sáng, mặt nạ, cánh yếm bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 99E1-234.55 được hình thành do va chạm với vật tày tạo nên. Vị trí va chạm trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 1, thuộc chiều chuyển động bên phải theo hướng cấu Bến Đám đi đường LDT.

2. Dấu vết mài sát, vỡ khuyết sơn, nhựa, kim loại tại bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 99E1-234.55 gồm: gương chiếu hậu, đầu tay nắm, ốp nhựa đầu xe, đèn xi nhan, để chân sau được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên.

3. Dấu vết cày xước ký hiệu 1 phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 99E1-234.55 đổ nghiêng trái, văng rê trên mặt đường tạo nên. Mảnh nhựa vỡ màu trắng thu tại vị trí số 3 trên hiện trường được gãy vỡ, tách ra từ bên phải ốp nhựa đầu xe và cánh yếm bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 99E1-234.55.

4. Không xác định được tốc độ của xe mô tô biển kiểm soát 99E1-234.55 tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định mẫu máu thu tại hiện trường khi khám nghiệm và trưng cầu giám định file video do anh DTAgiao nộp ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ tai nạn.

Kết luận giám định ADN số HT372.25/PY-XNSH NGÀY 04/7/2025 của Viện Pháp y Quân đội- Cục Quân y kết luận:

1. Mẫu máu thu tại hiện trường, niêm phong trong phong bì ký hiệu “M1” gửi giám định có ADN nhiễm sắc thể thường không trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của bà NTK.

2. Mẫu máu thu tại hiện trường, niêm phong trong phong bì ký hiệu “M2” gửi giám định có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của bà NTK.

Kết luận giám định số 3481 ngày 21/11/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BN kết luận: “File video có tên “20250612_21h29m52s.mp4”, dung lượng: 56.8MB, thời lượng: 00 phút 59 giây được lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định có hình ảnh video tổng thể được thiết bị lưu trữ tự động liên kết các khung hình với nhau từ 04 (bốn) camera được lắp đặt tại các vị trí góc quay khác nhau bố trí trên phương tiện giao thông (hình ảnh camera tại vị trí trước, sau và 02 bên của phương tiện giao thông), không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh”.

Cơ quan điều tra đã cho NTK xem file video nêu trên. K xác nhận có hình ảnh K điều khiển xe mô tô Honda Wave màu trắng biển số 99E1- 234.55 đang đi vòng qua cổng Trung tâm y tế BN số 1 rời khỏi hiện trường sau khi gây tai nạn hồi 21 giờ 30 phút 42 giây.

Trong quá trình điều tra, NTK điều khiển xe mô tô biển số 99E1- 234.55 gây tai nạn làm anh DVH bị chết; sau khi gây tai nạn thì K điều khiển đi khỏi hiện trường và không thông báo cho cơ quan chức năng việc đã gây ra tai nạn. Theo K khai do sợ bị đánh.

Cơ quan điều tra cho NTK thực nghiệm hành vi điều khiển xe mô tô gây tai nạn sau đó điều khiển xe rời khỏi hiện trường. Kết quả, K thực hiện thuần thục động tác điều khiển xe mô tô đâm vào người đi bộ qua đường; sau khi xảy ra va chạm xe mô tô đổ nghiêng trái, K bị ngã trong tư thế nằm úp, một bên chân trái bị xe đè lên. Sau khi được mọi người giúp nâng xe mô tô lên, K thực hiện động tác ngồi lên xe mô tô và điều khiển xe rời khỏi hiện trường.

Đối với NTK bị thương do tai nạn giao thông. Cơ quan điều tra trưng cầu giám định xác định tỷ lệ thương tích. Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 75 ngày 14/8/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh BN kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của NTK tại thời điểm giám định là 50%.

Kết luận định giá tài sản số 121/KL-ĐGTS ngày 22/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản TTHS Uỷ ban nhân dân tỉnh BN kết luận: Giá trị hư hỏng chiếc xe mô tô biển số 99E1- 234.55 là 1.140.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, NTK đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 98/CT-VKS ngày 05/01/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- BN đã truy tố NTK về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo NTK đã khai nhận toàn bộ nội dung, diễn biến hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu.

Đại diện theo pháp luật của bị hại bà O T L trình bày: Bà nhất trí với lời khai của bị cáo tại phiên tòa. Gia đình bà đã nhận được số tiền 200.000.000 đồng do bị cáo bồi thường, đến nay gia đình bà không ai yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Sự việc tai nạn xảy ra là việc không ai mong muốn, hiện nay bị cáo cũng bị thương và sức khỏe cũng suy giảm nhiều, gia đình bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt hết mức có thể cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa, không ai có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- BN giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo NTK 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách 05 năm. Giao bị cáo NTK cho UBND phường QV, tỉnh BN giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo K đã bồi thường cho gia đình A H 200.000.000 đồng, đến nay đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo nên không đặt ra xem xét.

- Về vật chứng: Trả lại bị cáo 01 chiếc xe mô tô Honda WAVE Alpha biển số 99E1- 234.55, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 001209 và 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 241159001726 mang tên NTK nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí: Bị cáo NTK phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo, bà Liên đều nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên và không có ý kiến tranh luận gì.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật và mong Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an tỉnh BN và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- BN và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng trình tự, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

Tại phiên tòa một số người đại diện theo pháp luật của bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt những người trên.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của đại diện theo pháp luật của bị hai, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, các Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện nội dung vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: NTK có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh BN cấp. Khoảng 21 giờ ngày 12/6/2025, K điều khiển xe mô tô biển số 99E1-234.55 đi theo hướng cầu Bến Đám đi đường LDT. Khi đến khu vực gần cổng Trung tâm Y tế BN số 1 có biển báo “Bệnh viện” (mã hiệu I.425), có vạch giảm tốc độ do không làm chủ tốc độ nên xe mô tô do K điều khiển đã va chạm với anh DVH đang đi bộ sang đường làm A H ngã ra đường và bị thương nặng. Sau khi gây ra tại nạn, K đã điều khiển xe mô tô rời khỏi hiện trường nhằm trốn tránh trách nhiệm. Hậu quả làm A H bị thương nặng được cấp cứu đến ngày 13/6/2025 thì bị chết.

Hành vi của bị cáo NTK vi phạm điểm e khoản 3, Điều 12, Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi điều khiển xe ô tô vượt 1 xe ô tô và vượt 1 xe mô tô cùng lúc là không đảm bảo an toàn nhưng vẫn thực hiện. Đối với A H có một phần lỗi khi qua đường không quan sát các phương tiện giao thông, không đảm bảo an toàn khi sang đường vi phạm điểm b khoản 1 Điều 30 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Xác định lỗi trong vụ án là lỗi hỗn hợp.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- BN, tỉnh BN truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến an ninh trật tự, tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây thiệt hại tính mạng cho bị hại và gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Xét về nhân thân thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại được đại diện theo pháp luật của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Do vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Từ tính chất, mức độ nguy hiểm mà hành vi phạm tội của bị cáo gây ra Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự với một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, lỗi của bị cáo là lỗi vô ý, bị hại cũng có một phần lỗi, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Để đảm bảo tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước và pháp luật, Hội đồng xét xử thấy không cần bắt bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần cho bị cáo cải tạo tại địa phương là phù hợp với quy định của pháp luật và cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành một công dân biết tuân thủ pháp luật. Do vậy, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà về việc áp dụng cho bị cáo được hưởng án treo và việ xử phạt bị cáo trong khung hình phạt như Kiểm sát viên đã đề nghị tại phiên toà là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, bản thân bị cáo cũng bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 50% nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho đại diện theo pháp luật của bị hại số tiền 200.000.000 đồng. Đến nay đại diện theo pháp luật của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô biển số 99E1- 234.55 nhãn hiệu Honda Wave màu sơn trắng đen bạc, số máy HC12E5518965, số khung RLHHC1219DY518878, dung tích xi lanh 97cm3; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô Honda Wave màu sơn trắng đen bạc biển số 99E1- 234.55 số 001209 và 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 241159001726 của NTK do Sở giao thông vận tải tỉnh BN cấp ngày 08/02/2018 cần trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nhưng cần giữ lại để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Ngoài ra cần áp dụng quy định Điều 331, Điều 333, khoản 1 Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tuyên về quyền kháng cáo.

Từ những phân tích đánh giá như trên, Hội đồng xét xử thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp, có căn cứ và đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo NTK 03 (Ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 05 (Năm) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/01/2026)

Giao bị cáo NTK cho Uỷ ban nhân dân phường QV, tỉnh BN giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

2. Về vật chứng: Trả lại bị cáo NTK 01 chiếc xe mô tô biển số 99E1-234.55 nhãn hiệu Honda Wave màu sơn trắng đen bạc, số máy HC12E5518965, số khung RLHHC1219DY518878, dung tích xi lanh 97cm3; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô Honda Wave màu sơn trắng đen bạc biển số 99E1- 234.55 số 001209 và 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 241159001726 của NTK do Sở giao thông vận tải tỉnh BN cấp ngày 08/02/2018 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

3. Án phí: Bị cáo NTK phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện theo pháp luật của bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án theo quy định.

5. Hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b, 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ