vanban.org

Bản án 32/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho bà Đặng Thị U được ly hôn với ông Trần Văn Chế L.

Về con chung: Giao bà Đặng Thị U được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung tên Trần Chí T, sinh ngày 31/5/2014 và Trần Văn Chế T1, sinh ngày 05/02/2016 (hiện cả 02 con đều đang sống cùng mẹ là bà Đặng Thị U) đến khi các con thành niên (đủ 18 tuổi). Ông Trần Văn Chế L có quyền và nghĩa vụ thăm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con Đặng Thị U - Trần Văn Chế L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho bà Đặng Thị U được ly hôn với ông Trần Văn Chế L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 04-02-2026
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nghiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đàm Thị Thanh Loan

Bà Quách Thị Hải Yến

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Nguyệt Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 134/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2025 về việc "ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 310/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị U, sinh ngày 25/7/1983 (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

CCCD số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 29/9/2022.

Địa chỉ: Ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ.

Chỗ ở hiện nay: Ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ (trước đây là ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng).

- Bị đơn: Ông Trần Văn Chế L, sinh ngày 01/01/1983 (vắng mặt).

CCCD số: xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: Ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 27/10/2025 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Đặng Thị U trình bày:

Bà Đặng Thị U và ông Trần Văn Chế L đăng ký kết hôn ngày 06/12/2012 tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là UBND xã T, tỉnh Đồng Tháp). Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Tuy nhiên, hiện nay xảy ra nhiều mâu thuẫn và ngày càng gay gắt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 09 năm 2020 đến nay. Nay yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn Chế L. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Chí T, sinh ngày 31/5/2014 và Trần Văn Chế T1, sinh ngày 05/02/2016 hiện các con đang sống cùng mẹ là bà U. Yêu cầu Tòa án giải quyết giao cả 02 con chung cho bà U trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết.

- Bị đơn ông Trần Văn Chế L vắng mặt, không có lời trình bày.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa nêu quan điểm:

Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp; thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng pháp luật; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho bà U được ly hôn với ông L; Về con chung đề nghị giao cả 02 con chung cho bà U trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi, việc cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung không đặt ra xem xét, giải quyết do đương sự không yêu cầu. Án phí ly hôn buộc nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51, 56, 58 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn bà Đặng Thị U có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trần Văn Chế L vắng mặt không lý do, đương sự đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với tất cả những người tham gia tố tụng.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 110/KH (Quyển số 01/2012) ngày 06/12/2012 của Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là UBND xã T, tỉnh Đồng Tháp) thể hiện, bà Đặng Thị U và ông Trần Văn Chế L có đăng ký kết hôn với nhau, đương sự trình bày kết hôn trên cơ sở tự nguyện, do vậy hôn nhân này là hợp pháp. Qua lời trình bày của nguyên đơn thể hiện trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, dẫn đến cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, nên đã ly thân từ tháng 09 năm 2020 đến nay.

Toà án đã tiến hành tổ chức hòa giải nhưng ông L không tham gia nên không tiến hành hoà giải được, ông L biết được thông tin bà Ú khởi kiện yêu cầu ly hôn, nhưng không phản hồi ý kiến cho Toà án. Điều này chứng tỏ ông L không có nguyện vọng hoặc mong muốn được hàn gắn với bà U. Việc nam nữ đăng ký kết hôn với nhau xuất phát từ mong muốn tìm kiếm hạnh phúc trong cuộc sống gia đình. Tuy nhiên, nếu hôn nhân không như mong muốn, không còn hạnh phúc trong cuộc sống vợ chồng thì ly hôn chính là giải pháp cho cả hai, nên không thể bắt buộc bà U phải tiếp tục chung sống với ông L nếu như bà không còn tình cảm và thực tế hiện nay vợ chồng đã không còn chung sống với nhau là vi phạm tình nghĩa vợ chồng được luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà U và ông L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho bà U được ly hôn với ông L.

Về con chung: Bà U trình bày quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Trần Chí T, sinh ngày 31/5/2014 và Trần Văn Chế T1, sinh ngày 05/02/2016 hiện các con đang sống cùng mẹ. Bà U yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Ông L không phản hồi ý kiến cho Tòa án về quyền nuôi con. Xét thấy, bà U và ông L không thỏa thuận được việc ai là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nhưng các cháu T và cháu T1 đều có nguyện vọng được tiếp tục chung sống cùng mẹ được Tòa án ghi nhận vào ngày 12/11/2025. Xét thấy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp về mọi mặt của con chưa thành niên, nhằm tạo điều kiện cho các cháu có môi trường sống ổn định, an tâm học hành, tránh làm xáo trộn cuộc sống thường nhật của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà U, giao 02 con chung là các cháu Trần Chí T và Trần Văn Chế T1 cho bà Đặng Thị U được quyền trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi (thành niên). Ông Trần Văn Chế L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Việc cấp dưỡng nuôi con đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Buộc bà Đặng Thị U phải chịu án phí ly hôn số tiền 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0007631 ngày 27/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà U đã nộp xong án phí.

Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ là có căn cứ pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho bà Đặng Thị U được ly hôn với ông Trần Văn Chế L.

2. Về con chung: Giao bà Đặng Thị U được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung tên Trần Chí T, sinh ngày 31/5/2014 và Trần Văn Chế T1, sinh ngày 05/02/2016 (hiện cả 02 con đều đang sống cùng mẹ là bà Đặng Thị U) đến khi các con thành niên (đủ 18 tuổi). Ông Trần Văn Chế L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung và không ai được ngăn cản. Về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết do đương sự không yêu cầu.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết trong vụ việc ly hôn do đương sự không có yêu cầu.

4. Án phí sơ thẩm: Buộc bà Đặng Thị U phải chịu án phí ly hôn số tiền 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0007631 ngày 27/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà U đã nộp xong án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ