vanban.org

Bản án 32/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Võ Thúy D đối với anh Nguyễn Hoàng Quốc N. Cho ly hôn giữa chị Võ Thúy D và anh Nguyễn Hoàng Quốc N.

Về con chung: Giao các cháu Nguyễn Võ T, sinh ngày 13/3/2008 và Nguyễn Trúc Q, sinh ngày 05/4/2018 cho chị Võ Thúy D có quyền, nghĩa vụ tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận chị D không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thuý D-Nguyễn Hoàng Quốc N"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Võ Thúy D đối với anh Nguyễn Hoàng Quốc N. Cho ly hôn giữa chị Võ Thúy D và anh Nguyễn Hoàng Quốc N.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2026/HNGĐ-ST.
Ngày 28-01-2026.
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tài.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ninh.

Bà Trần Ánh Nhạn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12

- Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Thùy – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 296/2025/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Võ Thúy D, sinh năm 1982; địa chỉ: Khu phố L, phường K, tỉnh Tây Ninh; CCCD: xxxxxxxxxx, cấp ngày 28/6/2021; Vắng mặt, có đơn xin.

Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng Quốc N, sinh năm 1981; địa chỉ: Khu phố L, phường K, tỉnh Tây Ninh; CCCD: xxxxxxxxx, cấp ngày 20/8/2021; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Võ Thúy D thể hiện lời trình bày có trong hồ sơ như sau: Chị và anh N tự nguyện chung sống như vợ chồng từ năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 25/8/2006. Vợ chồng chị sống hạnh phúc đến khoảng tháng 02/2025 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn được, nguyên nhân do anh N ghen tuông vô cớ, thường xuyên kiếm chuyện chửi bới, xúc phạm, đánh đập chị và đập phá đồ đạc trong nhà. Chị và anh N đã sống ly thân từ tháng 10/2025 cho đến nay vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N. Thời gian sống chung chị và anh N có 02 người con chung tên Nguyễn Võ T, sinh ngày 13/3/2008 và Nguyễn Trúc Q, sinh ngày 05/4/2018, đều đang theo sống với chị, khi ly hôn chị yêu cầu được quyền nuôi 02 người con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Hoàng Quốc N thể hiện lời trình bày có trong hồ sơ: Nhận thấy phù hợp với lời trình bày của chị D về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung; Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn tình cảm vợ chồng là do trong cuộc sống vợ chồng chị D không quan tâm, lạnh nhạt với anh, anh nói thì vợ chồng gây cãi và xô xát, do nóng giận, không kiềm chế nên anh có đánh chị D 02 bạt tay và đập điện thoại của chị D. Nay chị D yêu cầu ly hôn, anh không đồng ý. Do anh không yêu cầu ly hôn nên anh không có ý kiến về con chung, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Tây Ninh:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn; Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo Điều 70, 72 BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2025. Vụ án không có vi phạm tố tụng.

2. Việc giải quyết vụ án:

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng 1 số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, đề nghị HĐXX giải quyết vụ án dân sự xem xét quyết định:

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thúy D đối với anh Nguyễn Hoàng Quốc N.

+ Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Võ T, sinh ngày 13/3/2008 và Nguyễn Trúc Q, sinh 05/4/2018 cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ghi nhận chị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

+ Về nợ chung, tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

+ Về án phí sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Chị D có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án xét xử vắng mặt chị D là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh N đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng anh N vẫn cố tình vắng mặt, Tòa án xét xử vắng mặt anh N là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị D và anh N chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2006, có đăng ký kết hôn, hôn nhân giữa chị D và anh N là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng anh chị sống hạnh phúc đến đầu năm 2025 phát sinh mâu thuẫn do trong thời gian sống chung vợ chồng thường xuyên gây cãi, không thống nhất về quan điểm sống, anh N ghen tuông và đánh đập chị D. Anh N và chị D đã sống ly thân từ tháng 10/2025 đến nay. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị D và anh N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay chị D yêu cầu được ly hôn với anh N nhận thấy có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Nguyễn Võ T, sinh ngày 13/3/2008 và Nguyễn Trúc Q, sinh ngày 05/4/2018 đang theo sống với chị D, 02 cháu đều có nguyện vọng theo sống với chị D nên xét thấy cần giao chị D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị D không yêu cầu nên không xem xét.

Về chia tài sản, giải quyết nợ chung: Chị D và anh N không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Tây Ninh là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Võ Thúy D đối với anh Nguyễn Hoàng Quốc N. Cho ly hôn giữa chị Võ Thúy D và anh Nguyễn Hoàng Quốc N.

2. Về con chung:

Giao các cháu Nguyễn Võ T, sinh ngày 13/3/2008 và Nguyễn Trúc Q, sinh ngày 05/4/2018 cho chị Võ Thúy D có quyền, nghĩa vụ tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận chị D không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về chia tài sản và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị D phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000xxxx ngày 14/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - Tây Ninh. Chị D đã nộp đủ án phí.

5. Quyền kháng cáo: Chị D, anh N được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ