- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày 04-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thuý Mở và ông Bùi Đức Khoa
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thanh Thuỷ – Thư ký Toà án nhân dân
thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải
Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuỷ
Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Vũ Văn T1, sinh ngày 19/7/1992 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn E, xã P,
huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là Tổ dân phố E, phường N, thành phố T, thành phố Hải Phòng); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T2 và bà Trần Thị D; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 163/2009/HSST ngày 11/11/2009 Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (được coi là không có án tích); bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/10/2024; có mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Lại Đình C
+ Ông Nguyễn Văn T3
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 10 phút ngày 04/10/2024, Vũ Văn T1 điều khiển xe mô tô Biển
kiểm soát 15AF-178.39 đến khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng mua của một người phụ nữ không quen biết 10 gói ma tuý Heroine với giá 1.000.000 đồng. T1 đựng ma tuý vào trong lọ nhựa màu trắng và cất giấu vào túi áo khoác phía trước bên tay phải đang mặc rồi tiếp tục điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng thì bị Công an huyện T kết hợp với Công an xã T (nay là Công an phường T) phát hiện, bắt quả tang. Cơ quan Công an thu giữ tại túi áo khoác phía trước bên phải của T1 đang mặc 01 lọ nhựa màu trắng kích thước (04x05)cm bên trong có 10 gói giấy bạc màu trắng đều chứa chất bột màu trắng (nghi là chất ma tuý) và 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 15AF-178.39 đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 1173/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của Phòng K -
Công an thành phố H, kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,04 gam, loại Heroine.
Tại Cáo trạng số 33/CT-VKSTN ngày 20 tháng 01 năm 2025, Viện Kiểm sát
nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên truy tố bị cáo Vũ Văn T1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên luận
tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản
2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 24-30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình
sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy niêm phong số 1173MT/PC09 chứa chất ma túy (0,91 gam Heroine), vỏ bao gói còn lại sau giám định.
Đối với đối tượng bán trái phép ma tuý cho T1, quá trình điều tra chưa xác
định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có cơ sở để xử lý
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T,
Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau,
phù hợp với Biên bản xác minh tin báo, nguồn tin về tội phạm được lập vào hồi 09 giờ 50 phút ngày 04/10/2024, phù hợp với nội dung kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Vũ Văn T1 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi cất giấu ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do nhu cầu của bản thân nên bị cáo vẫn mua về sử dụng. Khoảng 09 giờ 10 phút ngày 04/10/2024, tại khu vực đường tỉnh lộ 359 thuộc thôn F, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là Tổ dân phố F, phường T, thành phố T, thành phố Hải Phòng), bị cáo đã có hành vi cất giấu bất hợp pháp 1,04 gam Heroine để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; gia đình bị cáo có ông Vũ Văn T2 (là bố đẻ của bị cáo) và ông Vũ Văn H (là bác ruột của bị cáo) là người có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét về nhân thân: Tại Bản án số 163/2009/HSST ngày 11/11/2009 Toà án
nhân dân huyện Thuỷ Nguyên bị cáo bị xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (thời điểm phạm tội bị cáo 16 tuổi 11 tháng 01 ngày được coi là không có án tích), bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý nên có nhân thân xấu.
Tội phạm ma túy đang có diễn biễn phức tạp và có chiều hướng gia tăng.
Ma túy đã gây tác hại to lớn đối với con người và cộng đồng, là nguyên nhân làm mất trật tự, an toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội, gia tăng các loại tội phạm nên hình phạt đối với tội phạm ma túy cần phải nghiêm khắc mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, xét tội phạm mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo
còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo không nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ của bị cáo sau khi giám định còn lại, liên quan đến tội
phạm, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về án phí:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Những vấn đề khác:
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, BKS: 15AF-178.39 của Vũ
Văn T1. Do T1 bị bệnh, sống phụ thuộc vào gia đình, đi lại khó khăn nên mẹ T1 là bà Trần Thị D đã mua xe cho T1 để đi lại. Bà D không biết T1 sử dụng xe để đi mua ma tuý . Vì vậy, cơ quan điều tra đã trả lại xe cho bà D là có căn cứ.
Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra không xác
định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm
s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn T1 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù của bị cáo tính từ ngày bắt thi hành án.
Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo
kể từ ngày tuyên án (ngày 04/3/2025) cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự
và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì giấy niêm phong số 1173MT/PC09 chứa chất ma túy
(0,91 gam Heroine), vỏ bao gói còn lại sau giám định.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/01/2025 tại Chi
Cục Thi hành án dân sự thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng).
3. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a
khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình
sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án đựơc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi thành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành dân sự đựơc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thành phố Thuỷ Nguyên;
- VKSND TP. Hải Phòng;
- TAND TP. Hải Phòng;
- CQCSĐT- Công an thành phố Hải Phòng;
- CQTHAHS- Công an thành phố Hải Phòng;
- Phòng PV06- Công an TP. Hải Phòng;
- Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
- Trại tạm giam- Công an thành phố Hải Phòng;
- Chi cục THA DS thành phố Thuỷ Nguyên;
Đỗ Thị Hạnh
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Hạnh
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - VKSND thành phố Thuỷ Nguyên; - VKSND TP. Hải Phòng; - TAND TP. Hải Phòng; - CQCSĐT- Công an thành phố Thuỷ Nguyên; - CQTHAHS- Công an thành phố Thuỷ Nguyên; - Phòng PV06- Công an TP. Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng; - Trại tạm giam- Công an thành phố Hải Phòng; - Chi cục THA DS thành phố Thuỷ Nguyên; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |