- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A Tính - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng A T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày 25/ 9/ 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Khoàng Văn Sơn
2. Ông Chảo Phù Hiển
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Khôi - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Giàng A T sinh ngày 01 tháng 01 năm 1973 tại xã Thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai (cũ). Nơi thường trú: Bản Nà Bủng 2, xã Nà Bủng, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên (cũ). Nay nơi thường trú: Bản Nà Bủng 2, xã Nà Bủng, tỉnh Điện Biên; Thẻ CCCD: 011073001326; Nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ Công An; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng A C (đã chết) và con bà Tỉnh Thị D; Bị cáo Giàng A T chung sống như vợ chồng với bà Hạng Thị G sinh năm 1975 (đã chết) có 04 con chung, con lớn nhất 23 tuổi, nhỏ nhất 19 tuổi. Bị cáo Giàng A T chung sống như vợ chồng với bà Vàng Thị D sinh năm 1990 có 03 con chung con lớn nhất 15 tuổi, con nhỏ nhất 09 tuổi. Tiền án: Có 01; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 17 tháng 3 năm 1998 Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 07 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 01 năm tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”. Ngày 17 tháng 6 năm 2013 Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé xử phạt 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 27 tháng 9 năm 2023 Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 13 tháng 9 năm 2024 đã chấp hành xong hình phạt tù, hiện chưa được xóa án tích. Bị cáo Giàng A T bắt tạm giữ từ ngày 21 tháng 5 năm 2025 đến ngày 30 tháng 5 năm 2025, tạm giam từ ngày 30 tháng 5 năm 2025 đến nay, có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ ngày 21 tháng 5 năm 2025 bị cáo Giàng A T từ nhà đi bộ đến khu vực biên giới thuộc bản Púng Pá Kha, xã Nà Bủng, huyện Nậm Pồ (nay xã Nà Bủng, tỉnh Điện Biên) để tìm mua ma túy về sử dụng. Bị cáo Giàng A T gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 40 tuổi không biết họ tên, tên, địa chỉ ở đâu. Qua trao đổi nói chuyện bị cáo Giàng A T đã mua được 01 (một) gói Methamphetamine với số tiền là 300.000 đồng. Mua bán xong người đàn ông đó đi đâu bị cáo không biết còn bị cáo cất vào túi quần bên phải rồi đi bộ về nhà. Hồi 12 giờ ngày 21 tháng 5 năm 2025 bị cáo Giàng A T về đến bản Nà Bủng 2, xã Nà Bủng, tỉnh Điện Biên, bị tổ công tác Đồn biên phòng Nà Bủng phối hợp với Phòng phòng chống ma túy - Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Điện Biên và Công an xã Nà Bủng phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án.
Ngày 22 tháng 5 năm 2025 Cơ quan cảnh sát điều tra cùng với Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng;
- Khối lượng ma tuý là 11,706gam thu giữ của Giàng A T.
Bản kết luận giám định số: 464/KL-KTHS ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:
-Vật chứng gửi giám định thu giữ của Giàng A T có khối lượng: 11,706gam là chất ma tuý: Loại Methamphetamine;
Hoàn lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.
Bản cáo trạng số: 32/CT-VKSKV5 ngày 08 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên đã truy tố Giàng A T để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Xử phạt bị cáo Giàng A T từ: 06 (sáu) năm 05 (năm) tháng tù đến 06 (sáu) năm 08 (tám) tháng tù.
Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS; Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo; Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH khóa 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí với nội dung truy tố trong Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Giàng A T nhất trí không có ý kiến bổ sung; không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Lời sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi phạm tội bị cáo thấy: Lời khai nhận tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 07 giờ ngày 21 tháng 5 năm 2025 bị cáo Giàng A T từ nhà đi bộ đến khu vực biên giới thuộc bản Púng Pá Kha, xã Nà Bủng, huyện Nậm Pồ (nay xã Nà Bủng, tỉnh Điện Biên) để tìm mua ma túy về sử dụng. Bị cáo Giàng A T gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 40 tuổi không biết họ tên, tên, địa chỉ ở đâu. Qua trao đổi nói chuyện bị cáo Giàng A T đã mua được 01 (một) gói Methamphetamine với số tiền là 300.000 đồng. Mua bán xong người đàn ông đó đi đâu bị cáo không biết còn bị cáo cất vào túi quần bên phải rồi đi bộ về nhà. Hồi 12 giờ ngày 21 tháng 5 năm 2025 bị cáo Giàng A T về đến bản Nà Bủng 2, xã Nà Bủng, tỉnh Điện Biên, bị tổ công tác Đồn biên phòng Nà Bủng phối hợp với Phòng phòng chống ma túy – Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Điện Biên và Công an xã Nà Bủng phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án. Bị cáo Giàng A T có hành vi tàng trữ khối lượng 11,706gam là chất ma túy: Loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Do đó HĐXX có đủ căn cứ kết luận bị cáo Giàng A T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 BLHS. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 4 của Luật số 86/2025/QH 15 sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS để xử lý đối với bị cáo.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
Điểm g, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam.
Việc Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 truy tố bị cáo Giàng A T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật, bị cáo không bị oan sai.
Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội bị cáo thấy: Đây là vụ án rất nghiêm trọng về ma túy, mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tàng trữ, trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần xử lý bị cáo với mức hình phạt thỏa đáng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo Giàng A T thấy: Ngày 17 tháng 3 năm 1998 Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 07 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 01 năm tù về tội “ Bắt giữ người trái pháp luật”. Ngày 17 tháng 6 năm 2013 Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé xử phạt 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 27 tháng 9 năm 2023 Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 13 tháng 9 năm 2024 đã chấp hành xong hình phạt tù, hiện chưa được xóa án tích.
Trong qúa trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngày 27 tháng 9 năm 2023 Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 13 tháng 9 năm 2024 đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án. Ngày 21 tháng 5 năm 2025 bị cáo Giàng A T lại có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó bị cáo Giàng A T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chưa được xóa án tích lại phạm tội mới thuộc trường hợp “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Từ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX.
Xử phạt bị cáo Giàng A T từ: 06 (sáu) năm 05 (năm) tháng tù đến 06 (sáu) năm 08 (tám) tháng tù.
Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xem xét xử phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó HĐXX chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát, về việc không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông khoảng 40 tuổi là người đã bán Methamphetamine cho bị cáo Giàng A T. Cơ quan CSĐT đã xác minh, điều tra nhưng không có cơ sở làm rõ được nên không có căn cứ để xử lý. HĐXX không đặt vấn đề xử lý trong vụ án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; Áp dụng khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
-Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng: 11,01gam Methamphetamine, 01 (một) mảnh nilon màu trắng cũ, 01 (một) phong bì niêm phong cũ là vật chứng vụ án Giàng A T.
Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Bị cáo Giàng A T thuộc diện hộ nghèo. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH khóa 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; HĐXX quyết định miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát; Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không khiếu nại hoặc ý kiến gì. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; đểm h khoản 1 Điều 52; điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điểm c khoản 1 Điều 4 của Luật số 86/2025/QH 15 sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS.
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng A T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Giàng A T: 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 21 tháng 5 năm 2025.
3.Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; Áp dụng khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
-Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng: 11,01gam Methamphetamine, 01 (một) mảnh nilon màu trắng cũ, 01 (một) phong bì niêm phong cũ là vật chứng vụ án Giàng A T.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10 tháng 9 năm 2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên và Phòng thi hành án dân sự khu vực 5, tỉnh Điện Biên.
4.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH khóa 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5.Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Giàng A T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 25 tháng 9 năm 2025).
| Nơi nhận: - Phòng TT, KT-THA Tòa án tỉnh Điện Biên; - VKSND khu vực 5; - VKSND tỉnh Điện Biên; - CQĐT Công an tỉnh Điện Biên; - Trại giam Công an tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Điện Biên; - Bộ phận HS – LLTư pháp Công an tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - THADS tỉnh Điện Biên; - Lưu HS, HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng A Bách |