vanban.org

Bản án 32/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt Trần Văn T 39 (Ba mươi chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/08/2025. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? 1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HS-ST
Ngày: 24-10-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đính.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đức Phông.

Ông Lưu Văn Đê.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thanh Quỳnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm 1974; sinh trú quán: Xóm 6, xã N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Lai, sinh năm 1947 và bà Nguyễn Thị Mùi, sinh năm 1954. Chị em ruột có 04 người, bị cáo là thứ hai; có vợ là chị Trần Thị Thủy, sinh năm 1980 và 01 con sinh năm 1999. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 23/3/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xử phạt 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 14/12/2018.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/8/2025 cho đến nay. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Ngô Văn T1, sinh năm 1995; Vắng mặt;

2. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1977; Vắng mặt;

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1963. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do mắc nghiện ma tuý nên ngày 03/8/2025, Trần Văn T một mình đi bộ đến khu vực cầu Quần Liêu thuộc xã N, tỉnh Ninh Bình, mua 01 gói Heroine với giá 100.000đ của người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ, rồi cầm gói Heroine đi về khu vực ruộng lúa thuộc xóm 6, xã N sử dụng một mình hết gói Heroin này bằng hình thức hít. Chiều ngày 04/8/2025, Trần Văn T, tiếp tục đi bộ một mình từ nhà đến đoạn đường dong thuộc xóm 5, xã N, mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Về số tiền 300.000 đồng, hai lần mua ma túy là do Trần Văn T lao động được trả công mà có. T cầm gói Heroine trong lòng bàn tay trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi T đi đến khu vực đầu đường dong thuộc xóm 5, xã N, tỉnh Ninh Bình thì bị tổ công tác Công an xã N, Công an tỉnh Ninh Bình thực hiện nhiệm vụ tuần tra phát hiện, bắt quả tang lúc 17 giờ 50 phút cùng ngày. Thu giữ trong lòng bàn tay trái của T 01 gói giấy màu vàng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong kí hiệu M). T khai nhận đó là Heroine T mua về với mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Văn T.

Tại bản kết luận giám định số 326/KL-KTHS ngày 11/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng có khối lượng 0,145 gam được niêm phong kí hiệu M gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin). Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã lấy mẫu nước tiểu của T.

Tại bản kết luận giám định số 328/KL-KTHS ngày 11/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, kết luận: Có tìm thấy các chất gồm Morphine, Codeine và 6-MAM trong 01 mẫu nước tiểu được niêm phong kí hiệu M1 gửi giám định.

Cáo trạng số 34/CT-VKSHH ngày 30/09 /2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn T từ 42 đến 48 tháng tù.

Đề nghị xử lý vật chứng của vụ án đã thu giữ trong quá trình điều tra

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đều thừa nhận đã phạm tội, hứa sửa chữa lỗi lầm và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp lời khai người làm chứng, người chứng kiến, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình cùng các tài liệu khác đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Do mắc nghiện ma túy nên chiều ngày 04/8/2025, Trần Văn T đã đi bộ đến khu vực cầu Q thuộc xã N, tỉnh Ninh Bình mua 01 gói Heroine của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000đ để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an xã N phát hiện, bắt quả tang lúc 17 giờ 50 phút cùng ngày. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Do đó cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy. Ngày 23/3/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xử phạt 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và đến nay đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, sửa chữa lỗi lầm mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn; thái độ ăn năn, hối lỗi nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, xét cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo học tập, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội nhưng thấp hơn mức án đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà hôm nay là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Tuy nhiên, theo lời khai của bị cáo cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều thể hiện, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Do đó, không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữa 01 gói ma túy sau khi giám định xác định là Heroine. Xét đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Các vấn đề khác:

- Đối với 02 người đàn ông bán ma túy cho Trần Văn T vào ngày 03/8/2025 và ngày 04/8/2025, do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xác minh xử lý.

- Đối với hành vi của Trần Văn T ngày 03/8/2025, đã sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn T về việc “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, hình thức cảnh cáo là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

1.1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1.2. Xử phạt Trần Văn T 39 (Ba mươi chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/08/2025.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ gói Heroine trong phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật theo giám định số 326/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình

(Vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản bàn giao nhận vật chứng ngày 22/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 – Ninh Bình).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND + VKSND Ninh Bình;

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND khu vực 11;

- Công an tỉnh Ninh Bình;

- THADS tỉnh Ninh Bình;

- UBND xã N;

- Bị cáo;

- Hồ sơ vụ án.

Nguyễn Văn Đính THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Phông

Lưu Văn Đê

Nguyễn Văn Đính

Cỡ chữ