vanban.org

Bản án 32/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 16/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Tiến T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Tiến T 19 (mười chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2025. Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Tiến T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Tiến T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HS-ST
Ngày 16 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Tòng Thị Tuyết

Các hội thẩm nhân dân: Ông Bạch Thái Dũng

Ông Lò Văn Sung

- Thư ký phiên toà: Ông Lý Văn Thắng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - L tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Huấn, Kiểm sát viên.

Ngày 16/9/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - L là điểm cầu trung tâm xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến đến điểm cầu thành phần là Trại Tạm giam Công an tỉnh L vụ án hình sự thụ lý số: 29/2025/HSST ngày 25 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Tiến T; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày 05 tháng 10 năm 1991 tại tỉnh Tuyên Q. Nơi cư trú: bản Sân B, thị trấn Tam Đ, huyện Tam Đ, tỉnh L (nay là bản Sân B, xã Bình L1, tỉnh L); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Đinh Văn C, đã chết. Con bà: Bùi Thị H1, sinh năm 1969; Vợ, con: Chưa có. Anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/5/2025 cho đến nay tại Trại Tạm giam Công an tỉnh L. (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đinh Thị Th, sinh năm 1993. Địa chỉ: Bản Sân B, thị trấn Tam Đ, huyện Tam Đ, tỉnh L (nay là bản Sân B, xã Bình L1, tỉnh L); (Vắng mặt tại phiên tòa)

* Tại điểm cầu thành phần: Trại Tạm giam Công an tỉnh L.

- Bị cáo Đinh Tiến T (có mặt)

- Chiến sỹ Công an, cán bộ quản giáo Trại Tạm giam Công an tỉnh L, thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 – L (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Hồi 20 giờ 10 phút, ngày 24/5/2025, tổ công tác của Công an thị trấn Tam Đ, huyện Tam Đ, tỉnh L (nay là xã Bình L1, tỉnh L) phối hợp với Đội cảnh sát giao thông đường bộ 2 Thộc Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh L và tổ công tác số 5 Công an tỉnh L làm nhiệm vụ tại bản Thác C, thị trấn Tam Đ, tỉnh L (nay xã Bình L1, tỉnh L) thì phát hiện Đinh Tiến T có biểu hiện nghi vấn phạm tội. Qua kiểm tra phát hiện tay trái của Đinh Tiến T đang cầm 01 gói chất bột màu trắng được gói bên ngoài bằng 02 lớp, lớp ngoài là mảnh giấy màu trắng, lớp trong là mảnh nilon màu hồng. Theo T khai đó là Heroine, T tàng trữ để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 gói chất bột màu trắng được gói bên ngoài bằng 02 lớp, lớp ngoài là mảnh giấy màu trắng, lớp trong là mảnh nilon màu hồng; 01 xe mô tô BKS 25B1-788.69, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Latte màu trắng...

Tại Cơ quan điều tra, Đinh Tiến T khai nhận: Nguồn gốc số Heroine bị Thu giữ là vào khoảng 19 giờ 15 phút, giờ ngày 24/5/2025, Đinh Tiến T điều khiển xe mô tô BKS 25B1-788.69 một mình từ bản Sân B, thị trấn Tam Đ, huyện Tam Đ, tỉnh L (nay là bản Sân B, xã Bình L1, tỉnh L) đến bản Thác C, thị trấn Tam Đ, tỉnh L (nay là bản Thác C, xã Bình L1, tỉnh L) để tìm mua heroine về sử dụng. Khi đi đến đường Trường Chinh thì gặp và trao đổi mua bán Heroine với một người phụ nữ khoảng 50 tuổi nhìn giống người nghiện, T không rõ nhân thân lai lịch. Qua trao đổi mua bán, T mua được của người phụ nữ nói trên 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng 02 lớp, lớp ngoài là mảnh giấy màu trắng, lớp trong là mảnh nilon màu hồng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, T cầm ở lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Kết luận giám định số: 428/KL-KTHS ngày 26/5/2025 của Phòng kỹ Thật hình sự Công an tỉnh L, kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng Thu giữ của Đinh Tiến T có khối L1ợng 0,200 gam là ma tuý, loại: Heroine. (không hoàn lại mẫu vật gửi giám định).

Cáo trạng số: 29/CT-VKSKV1 ngày 25/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - L đã truy tố Đinh Tiến T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - L giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Đinh Tiến T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Đinh Tiến T từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2025. Áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thuu, tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy màu trắng; vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các quyết định nêu trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đinh Thị Th vắng mặt tại phiên tòa. Quá trình điều tra xác định, chị Đinh Thị Th là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô BKS 25B1-788.69, chị Th không biết T sử dụng xe đi mua ma túy. Ngày 12/8/2025 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Đinh Thị Th. Chị Đinh Thị Th không có yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.

Tại lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để được sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, các Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định trọng L1ợng, kết luận giám định… và vật chứng đã Thu giữ, được xem xét, tranh tụng công khai tại phiên toà. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 20 giờ 10 phút ngày 24/5/2025, tại bản Thác C, thị trấn Tam Đ, huyện Tam Đ, tỉnh L (nay là bản Thác C, xã Bình L1, tỉnh L), Đinh Tiến T đang tàng trữ trái phép 0,200 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Công an thị trấn Tam Đ, huyện Tam Đ, tỉnh L (nay là Công an xã Bình L1, tỉnh L) phối hợp với Đội cảnh sát giao thông đường bộ 2 Thộc Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh L và tổ công tác số 5 Công an tỉnh L phát hiện, bắt quả tang.

Bị cáo Đinh Tiến T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của bị cáo Đinh Tiến T có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có cơ hội cai nghiện, răn đe, giáo dục bị cáo, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có Th nhập ổn định và không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 0,200 gam Heroine Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ đi giám định, sau giám định không hoàn lại mẫu vật nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

Đối với 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy màu trắng; vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là công cụ dùng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra, theo lời khai của Đinh Tiến T, nguồn gốc số Heroine bị Thu giữ là do mua của một người phụ nữ khoảng 50 tuổi do T không biết nhân thân, lai lịch của người phụ nữ này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án.

Đối với chị Đinh Thị Th là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô BKS 25B1 – 788.69 mà bị cáo dùng vào việc phạm tội. Quá trình điều tra xác định Đinh Tiến T tự ý lấy và sử dụng chiếc xe mô tô nói trên vào việc phạm tội, chị Th không biết nên không đồng phạm với Đinh Tiến T và cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Đinh Thị Th là phù hợp với quy định của pháp luật

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức Th, miễn, giảm, Th, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

1. Tuyên bố bị cáo Đinh Tiến T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Tiến T 19 (mười chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2025.

3. Về vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy màu trắng; vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/8/2025 giữa Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - L).

4. Về án phí: Bị cáo Đinh Tiến T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật lên Toà án nhân dân cấp trên.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ