- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN THANH Q - phạm tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (điều 129 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 129 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày 11-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Minh Tường;
2. Bà Nguyễn Thị Phượng.
- Thư ký phiên tòa: ông Lê Xuân Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Trần Văn Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1978 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con Nguyễn Văn S và bà Mai Thị B (cả hai đã chết); có vợ tên Vương Thị Ngọc P và 02 người con; tiền án, tiền sự: không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14-10-2024 cho đến nay; có mặt.
Bị hại: anh Lê Thanh P1, sinh năm 2000; cư trú tại: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại: ông Lê Xuân T, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị P2, sinh năm 1976; cùng cư trú tại: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 28-8-2015, Nguyễn Thanh Q được Cục Công tác phía Nam thuộc Bộ V cấp giấy chứng nhận hoàn thành lớp tập huấn bơi lội, cứu đuối tại Tây Ninh. Ngày 16-01-2018, Q được Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 45B8000936. Q mở hồ bơi “P3”, địa chỉ khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Q là chủ hồ bơi và là người cứu hộ, có trách nhiệm giám sát hoạt động của hồ bơi và cứu đuối khi xảy ra đuối nước tại hồ bơi. Hồ bơi “Phượng” bán vé đối với khách đến hồ để bơi người cao trên 1,4m thì giá vé là 20.000 đồng/lượt, người cao dưới 1,4m thì giá vé 15.000 đồng/lượt. Khách đến bơi mua vé trước khi vào bơi.
Vào khoảng 13 giờ 40 phút ngày 02-3-2024, anh P1 cùng với anh Trần Anh K, sinh năm 2004 và anh Mai Thành Đ, sinh năm 2005, cùng ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; anh Nguyễn Đan T1, sinh năm 2005 và anh Đỗ Chí B1, sinh năm 2002, cùng ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; anh Đỗ Minh T2, sinh năm 2003, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; anh Lê Hoàng B2, sinh năm 2004, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh đến hồ bơi “P3” để bơi. Vào thời điểm nhóm người của anh P1 đến bơi lội dưới hồ bơi thì Q ở trong nhà, không có mặt ở khu vực hồ bơi để giám sát, thực hiện công tác cứu hộ. Đến khoảng 13 giờ 53 phút cùng ngày, những người bơi chung phát hiện anh P1 nổi trên mặt nước nên vớt lên bờ và anh Nguyễn Đan T1 tiến hành hô hấp nhân tạo cho anh P1 và thông báo cho Q biết. Sau khi hô hấp nhân tạo cho anh P1 khoảng 05 phút thì đưa anh P1 đến Trung tâm Y tế huyện T để cấp cứu. Sau đó, chuyển đến Bệnh viện Đ1 nhưng anh P1 đã tử vong.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: vụ đuối nước xảy ra tại hồ bơi “P3”, thuộc khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Qua trình khám nghiệm hiện trường xác định được: Hồ bơi xây âm, dài theo hướng Đ có kích thước (9x19)m, xung quanh hồ được lót gạch men, mực nước sâu dần từ 01m ở đầu hướng Tây đến 1,3m khu vực giữa hồ và 1,7m ở đầu hướng Đông. Khu vực xác định thi thể nạn nhân Lê Thanh P1 nổi trên mặt nước ở vị trí mực nước sâu 1,13m, cách mép hồ hướng Tây 3,8m, cách mép hồ hướng Nam 3,7m. Trên thành hồ không có ghế cứu hộ mà ghế cứu hộ đặt sát vách tường cách thành hồ 04m50.
* Kết quả giám định:
- Tại Bản kết luận giám định tử thi số: 449/KL-KTHS ngày 31-3-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: nguyên nhân chết của anh Lê Thanh P1 là do ngạt nước.
- Tại Bản kết luận giám định độc chất số: 372/488/24/KLGĐĐC-PYQG ngày 19-3-2024 của P4 tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: không tìm thấy các độc chết trong mẫu phủ tạng và máu của bị hại Lê Thanh P1.
- Tại Bản kết luận giám định mô bệnh học số: 70/KLMBH-PVPYQG ngày 19-3-2024 của Phân viện tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: MẪU PHỦ TẠNG CỦA Lê Thanh P1 phổi sung huyết, tràn ngập dịch hồng và hồng cầu trong lòng và vách phế nang; tim mô kẽ phù, các mạch máu sung huyết; não, gan sung huyết.
- Tại Bản kết luận giám định số: 1221/KL-KTHS ngày 19-7-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: 04 đoạn video đặt tên “VIDEO 1, VIDEO 2, VIDEO 3, VIDEO 4”, không phát hiện dấu vết cắt ghép chỉnh sửa về nội dung.
* Phần trách nhiệm dân sự: ghi nhận bị cáo Q đã bồi thường cho gia đình bị hại P1 số tiền 5.000.000 đồng, ông T không yêu cầu bồi thường thêm.
Bản cáo trạng số 13/CT-VKSTB, ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Q về tội “Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp” theo khoản 1 Điều 129 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp” theo khoản 1 Điều 129 của Bộ luật Hình sự và đề nghị:
Căn cứ khoản 1 Điều 129; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 (hai mươi bốn) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Bồi thường thiệt hại: căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận người đại diện hợp pháp của bị hại P1 không yêu cầu bị cáo Q bồi thường gì thêm.
Bị cáo Q thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố và không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng: sự việc xảy ra là ngoài ý muốn của bị cáo, qua sự việc bị cáo đã rút ra bài học sâu sắc cho bản thân, nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để cho bị cáo được tiếp tục công việc nuôi sống cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai của bị cáo Q trong quá trình điều tra và tại phiên tòa là phù hợp với các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai người làm chứng, gia đình bị hại; biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ căn cứ để kết luận:
Bị cáo Q đã được Cục Công tác phía Nam cấp Giấy chứng nhận hoàn thành tập huấn bơi lội, cứu đuối tại Tây Ninh, đồng thời cũng là người trực tiếp quản lý hồ bơi “P3” theo Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh hoạt động bơi, lặn do Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 16-01-2018 (đăng ký thay đổi lần thứ 3). Vào khoảng 13 giờ 40 phút, ngày 02-3-2024, tại hồ bơi “Phượng” thuộc khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Q vừa là người trực tiếp quản lý hồ bơi, vừa là nhân viên cứu hộ nhưng đã vi phạm quy tắc nghề nghiệp như: không đặt ghế cứu hộ đúng vị trí, không có mặt ở khu vực hồ bơi để giám sát người tham gia bơi lội nhằm thực hiện công tác cứu hộ theo quy định để đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh và an toàn cho tính mạng, sức khỏe của con người, theo quy định tại điểm c khoản 8 Điều 3 và khoản 3 Điều 5 Thông tư số 03/2018/TT-BVHTTDL ngày 19-01-2018 của Bộ V, vô ý gây hậu quả làm anh Lê Thanh P1 chết khi tham gia hoạt động bơi lội tại hồ bơi. Căn cứ Bản kết luận giám tử thi số: 449/KL-KTHS ngày 31-3-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận nguyên nhân chết của anh Lê Thanh P1 là do ngạt nước. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh Q đủ yếu tố cấu thành tội “Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp” theo quy định tại khoản 1 Điều 129 của Bộ luật Hình sự.
Bản cáo trạng số: 13/CT-VKSTB, ngày 23-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Q đã xâm phạm đến quy định của nhà nước về quản lý hoạt động kinh doanh hồ bơi, xâm phạm quyền sống của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây đau thương, mất mát cho gia đình bị hại và ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo Q là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuy phải thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng chủ quan cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được, dẫn đến hậu quả chết người xảy ra, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 5.000.000 đồng và trong quá trình điều tra, truy tố người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại, miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; ngoài ra, bị cáo Q còn được Giám đốc Sở Văn hóa – thẻ thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh tặng giấy chứng nhận Huy chương bạc và Chủ tịch UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh tặng Giấy khen do có thành tích trong một số giải đấu địa phương tổ chức. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Hình phạt áp dụng: bị cáo Q có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục, nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách nhất định đối với bị cáo cũng không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội và đủ sức răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của nhà nước.
Bị cáo có nghề nghiệp và nguồn thu nhập chủ yếu từ việc kinh doanh hồ bơi, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 129 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Bồi thường thiệt hại: bị cáo Q đã hỗ trợ cho gia đình bị hại số tiền 5.000.000 đồng, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo Q bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí: bị cáo Q là người bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp”.
Căn cứ khoản 1 Điều 129; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11-4-2025).
Giao bị cáo Nguyễn Thanh Q cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thanh Q phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1); - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP. HCM; - PKTNV- TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Tân Biên; - Cơ quan THAHS; - Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Biên; - Chi cục THA DS huyện Tân Biên; - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh TN; - Phòng PV 06 Công an tỉnh TN; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Thúy |