- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày 31-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm tại điểm cầu trung T Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Phạm Văn Diễn;
2.Bà Nguyễn Thị Hường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Minh Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.
Thành phần những người tham gia tố tụng tại điểm cầu trung T:
- Người chứng kiến:
1.Ông Nguyễn Hữu R, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
2.Ông Nguyễn Công C, sinh năm 1963; Địa chỉ: Thôn C, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
Tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam khu vực Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, gồm:
- Những người tiến hành tố tụng:
Ông Vũ Minh Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Q
Bà Vũ Quỳnh Lam – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Q.
- Người tham gia tố tụng: Bị cáo Nguyễn Đức T.
- Người tham gia tố tụng khác: Ông Bùi Công Quang - Cán bộ Phân trại tạm Giam khu vực Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
Ngày 31 tháng 3 năm 2025 Tòa án nhân dân huyện Q, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 23/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 3 năm 2025, đối với:
Bị cáo Nguyễn Đức T sinh ngày 25/7/1985; tại: huyện Q, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: thôn V, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đức K sinh năm 1956 (ông K được tặng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba, Huy chương kháng chiến hạng Nhì) và bà Nguyễn Thị L sinh năm 1952; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/12/2024, chuyển tạm giam từ ngày 19/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực Quỳnh Phụ)
(Bị cáo có mặt tại điềm cầu thành phần Phân trại tạm giam khu vực Quỳnh Phụ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 13/12/2024 tại khu vực Trạm y tế xã An Cầu, thuộc địa phận thôn Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình; tổ công tác Công an xã C, huyện Q phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Đức T có hành vi cất giấu tại túi áo khoác ngoài bên trái phía trước T đang mặc 01 gói nhỏ, bên ngoài gói bằng ½ tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, bên trong chứa chất bột màu trắng, dạng cục là ma túy, loại Heroin (Heroine) có khối lượng 0,1986 gam. T khai nhận gói ma túy trên T mua của một người đàn ông, khoảng 40 tuổi (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) ở khu vực ngã tư Vũ Hạ thuộc địa phận thôn H, xã V, huyện Q với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng. Tổ công tác Công an xã An Cầu đã thu giữ, niêm phong gói ma túy trên trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Hữu R và ông Nguyễn Công C. Ngoài ra, tổ công tác quản lý của T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu đen đỏ, biển số 17B5-443.XX.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đức T không thu giữ tài sản, đồ vật gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Bản kết luận giám định số 1813/KL-KTHS ngày 17/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; có khối lượng 0,1986gam (không phẩy một nghìn chín trăm tám mươi sáu gam). Heroine STT: 09, Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ”
Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã mô tả.
Bản Cáo trạng số 31/CT-VKSQP ngày 05/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễn Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Về hình phạt: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 13/12/2024; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;
Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo được hoàn lại sau giám định;
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát
Bị cáo không có lời nói sau cùng nào.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận do nghiện ma túy nên bị cáo đã đi mua 01 gói ma túy về sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Bị cáo đã đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả và được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản quản lý đồ vật tài liệu cùng ngày 13/12/2024, lời khai của người chứng kiến, bản kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 13/12/2024, tại khu vực Trạm y tế xã An Cầu, thuộc địa phận thôn Đ, xã A, huyện Q, tình Thái Bình, Nguyễn Đức T đã có hành vi tàng trữ trái phép tại túi áo khoác ngoài 0,1986 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an xã A phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy, thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
...
c)Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05gam;
…
5.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Q truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Tệ nạn ma túy đang là mối quan T, nhức nhối của toàn xã hội, ma túy làm ảnh hưởng đến kinh tế, sức khỏe, làm suy thoái nòi giống và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy nhưng do lối sống buông thả, thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình bị cáo đã sa vào sử dụng ma túy nên bị cáo đã phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật với mức án tương xứng hành vi bị cáo đã gây ra, việc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để chấp hành hình phạt là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo riêng và có tác dụng trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo thấy: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có hành vi vi phạm pháp luật nào.
Từ những nhận định nêu trên nên về hình phạt áp dụng đối với bị cáo như mức Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo tàng trữ trái phép để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán kiếm lời, bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Do không có căn cứ xác định người đã bán ma túy cho bị cáo nên cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý.
Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu đen đỏ, biển số đăng ký 17B5-443.XX là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Tiến T1, anh T1 không biết bị cáo mượn xe để mua ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã trả lại chiếc xe trên cho anh Tân là đúng quy định của pháp luật. Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 01 gói chứa chất bột màu trắng dạng cục, kết quả giám định kết luận là ma túy loại Heroine và hoàn trả mẫu vật sau giám định, đây là loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy số ma túy đã thu giữ còn lại sau giám định là phù hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2.Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 13/12/2024.
3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,1512 gam (Không phẩy một nghìn năm trăm mười hai gam) Heroine mẫu gửi giám định và toàn bộ bao gói quản lý của Nguyễn Đức T trong phong bì hoàn mẫu vật giám định số 1813/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
(Vật chứng trên đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh Thái Bình theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/3/2025 giữa Công an xã An Cầu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q)
4.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo Nguyễn Đức T có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - Bị cáo; -VKSND h. Quỳnh Phụ; -VKSND tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS h. Quỳnh Phụ; - TAND tỉnh Thái Bình; - Cơ quan THA hình sự CA tính Thái Bình; - Cơ quan CSĐTCA tỉnh Thái Bình; - Phân trại tam giam khu vực Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình; - UBND xã Đ, h.Quỳnh Phụ; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Duyên |