- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Quốc H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LỤC TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày 24-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LỤC, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Thắm và bà Dương Thị Hiền.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bảy - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tấn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2025 đối với:
Bị cáo: Trịnh Quốc H, sinh ngày 06/5/1992 tại xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam; nơi thường trú: thôn 1 A, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam; nơi ở: thôn 2 A, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn H1 (đã chết) và bà Phan Thị H2; có vợ là Trần Thị Phương L (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: không; đặc điểm nhân thân: Ngày 05/6/2015, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; bị bắt tạm giữ từ ngày 07/01/2025, chuyển tạm giam từ ngày 16/01/2025 đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 06/01/2025, tại đoạn đường bê tông thuộc thôn 2 A, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam; Tổ công tác của Công an huyện Bình Lục phối hợp cùng Công an xã B tuần tra, phát hiện Trịnh Quốc H đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến tội phạm về ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra. Trịnh Quốc H đã tự giác giao nộp 01 hộp hình vuông (2x2x2)cm màu trắng, mở ra bên trong có chứa 01 viên nén màu xám không rõ hình dạng, 01 túi nilon miệng túi có kẹp nhựa viền màu xanh, bên trong có chứa các tinh thể màu trắng mà H đang cầm trong lòng bàn tay phải, H khai nhận đó là ma túy dạng “Kẹo” và dạng “Ke” của H vừa mua được cất giữ để sử dụng cho bản thân.
Thu giữ vật chứng: 01 hộp hình vuông (2x2x2)cm màu trắng, mở ra bên trong có chứa 01 viên nén màu xám không rõ hình dạng, 01 túi nilon miệng túi có kẹp nhựa viền màu xanh, bên trong có chứa các tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01, 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim điện thoại được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02.
Quá trình điều tra Trịnh Quốc H khai nhận: Khoảng 22 giờ ngày 06/01/2025, H gọi điện thoại cho một người nam thanh niên tên là T (H chỉ biết T ở thành phố N, tỉnh Nam Định) để hỏi mua 1.000.000 đồng tiền ma túy dạng “Kẹo” và dạng “Ke” để sử dụng, gồm 01 viên “Kẹo” và 01 chỉ “Ke”, sau khi trao đổi qua điện thoại thì T đồng ý và bảo H chờ khoảng 30 phút sẽ mang ma túy lên cho H. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, T gọi điện thoại lại cho H bảo H đi ra đoạn đường bê tông thôn 2 A, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam để nhận ma túy, H đi bộ từ chỗ ở của H qua cầu thì gặp T đi xe môtô đến. H lấy trong túi quần phía trước bên phải đang mặc ra số tiền 1.000.000 đồng, gồm 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng để đưa cho T. Sau khi nhận tiền, T đưa cho H 01 hộp hình vuông màu trắng. H biết bên trong hộp có ma túy nên không mở ra xem mà cầm lấy đi về chỗ ở, còn T điều khiển xe rời đi. Khi H đi bộ được khoảng 200m thì lực lượng Công an tuần tra đến yêu cầu kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng, tài sản liên quan.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Lục đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trịnh Quốc H tại thôn 2 A, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam. Quá trình khám xét không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Tại Bản kết luận giám định số 45/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận:
“- Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,395g (Không phẩy ba trăm chín mươi lăm gam) loại: MDMA, Ketamine, Methamphetamine.
- Mẫu tinh thể trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,234g (Không phẩy hai trăm ba mươi tư gam) loại: Ketamine.
Hoàn lại đối tượng giám định: 0,299g (Không phẩy hai trăm chín mươi chín gam) viên nén; 0,200g (Không phẩy hai trăm gam) tinh thể trong mẫu QT01 gửi giám định cùng toàn bộ bao gói mẫu vật”.
Ngày 13/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Lục trưng cầu Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an giám định bổ sung, xác định hàm lượng, khối lượng các chất MDMA, Methamphetamine, Ketamine có trong 0,299 gam mẫu viên nén hoàn lại sau giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 348/KL-KTHS ngày 15/01/2025 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: “Hàm lượng, khối lượng các chất ma túy MDMA, Methamphetamine và Ketamine trong 0,299 gam chất bột màu xám gửi giám định như sau:
Chất ma túy
Hàm lượng (%)
Khối lượng (gam)
MDMA
31,1
0,092
Methamphetamine
4,1
0,012
Ketamine
15,08
0,044
Ngày 23/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Lục đã trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên giám định kỹ thuật số và điện tử, trích xuất phục hồi dữ liệu trong điện thoại Iphone 7 Plus đã thu giữ của Trịnh Quốc H trong thời gian từ ngày 05/01/2025 đến ngày 06/01/2025. Tại bản Kết luận giám định số 42/KL-KTHS(KTS) ngày 09/02/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: “Tìm thấy 13 tin nhắn sms/mms, 146 tin nhắn zalo, chụp ảnh tin nhắn facebook, 0 tin nhắn telegram, 52 cuộc gọi từ sim trong khoảng thời gian từ ngày 05/01/2025 đến ngày 06/01/2025).
Kèm theo kết luận giám định là 01 USB lưu 01 file”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Hà Nam đã tiến hành mở niêm phong, kiểm tra, đánh giá nội dung tệp lưu trữ trong 01 USB hoàn trả sau giám định, kết quả xác định: Tại các thư mục trong USB không phát hiện dữ liệu, nội dung gì liên quan đến vụ án hay hành vi vi phạm pháp luật khác. Sau khi kiểm tra, USB được niêm phong trong phong bì ký hiệu “USB 01”.
Cáo trạng số 32/CT-VKS-MT ngày 03/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam truy tố Trịnh Quốc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trịnh Quốc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Quốc H từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 7 Plus; tiếp tục quản lý, lưu trữ theo hồ sơ vụ án 01 chiếc USB; tịch thu tiêu hủy 01 sim Viettel và số ma túy hoàn trả lại sau giám định trong 02 phong bì niêm phong có số 45/KTHS và số 348/KL-KTHS.
Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Quốc H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nói sau cùng của bị cáo đã ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định đó.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Quốc H đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 06/01/2025; tại đoạn đường bê tông thuộc địa bàn thôn 2 A, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam; Trịnh Quốc H đang cất giữ trái phép 0,278 gam ma túy loại Ketamine, 0,092 gam ma túy loại MDMA và 0,012 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ.
Đối với các chất ma túy mà Trịnh Quốc H cất giữ để sử dụng tính ra tỷ lệ % so với mức tối thiểu quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự được tính như sau: Chất MDMA, Methamphetamine là (0,092 gam + 0,012 gam)/05 gam = 2,08% so với mức tối thiểu quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; chất Ketamine là 0,278 gam/20 gam = 1,39% so với mức tối thiểu quy định tại điểm l khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy tổng 03 chất ma túy MDMA, Methamphetamine, Ketamine mà Trịnh Quốc H cất giữ để sử dụng là 3,47%, dưới 100% so với mức tối thiểu quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Căn cứ quy định tại Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ, quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 thì hành vi nêu trên của Trịnh Quốc H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:
Về nhân thân: Mặc dù bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng có đặc điểm nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Trịnh Quốc H khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xem xét đánh giá khách quan, toàn diện vụ án cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh tài sản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam thấy bị cáo không có tài sản riêng gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 điện thoại Iphone 7 Plus của Trịnh Quốc H đã sử dụng làm phương tiện liên lạc để mua ma túy nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 sim Viettel là vật không có giá trị sử dụng và số ma túy là Ketamine, MDMA và Methamphetamine hoàn trả sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Vì vậy cần tịch thu tiêu hủy.
- Tiếp tục quản lý, lưu trữ theo hồ sơ vụ án 01 USB.
Về các vấn đề khác trong vụ án:
- Về nguồn gốc số ma túy Ketamine, Methamphetamine, MDMA đã thu giữ và đối tượng đã bán ma túy cho Trịnh Quốc H: Trịnh Quốc H khai nhận có sử dụng điện thoại của H gọi cho mội người nam thanh niên tên là T để hỏi mua ma túy, sau khi gọi xong đã xóa lịch sử và không lưu số trong danh bạ điện thoại. Ngoài lời khai của Trịnh Quốc H, tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án không đủ căn cứ để xác định được nguồn gốc số ma túy Ketamine, Methamphetamine, MDMA và đối tượng đã bán ma túy cho Trịnh Quốc H để xem xét, xử lý.
- Tài liệu điều tra xác định ngay trước thời điểm Trịnh Quốc H bị bắt quả tang ngày 06/01/2025, H đã sử dụng điện thoại Iphone 7 Plus để chuyển số tiền 1.800.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của H đến số tài khoản 3210205296766 ngân hàng Agribank mang tên “TRAN ANH T”. Qua xác minh xác định được chủ số tài khoản trên là Trần Anh T, sinh ngày 27/5/1998, trú tại thôn L, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập, lấy lời khai đối với Trần Anh T. Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận: T có quen biết Trịnh Quốc H và thuê H xăm hình trên cơ thể, ngoài ra H có vay tiền của T trước đó. Ngày 06/01/2025, H có chuyển cho T số tiền 1.800.000 đồng, là tiền H vay nợ trước đó. T khẳng định không biết H sử dụng ma túy, không bán ma túy cho H. Lời khai của Trần Anh T phù hợp với lời khai của Trịnh Quốc H khai nhận rằng số tiền 1.800.000 đồng là tiền H trả nợ cho T, không phải tiền mua ma túy của Trần Anh T. Do vậy không có căn cứ để xem xét, xử lý đối với Trần Anh T.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Tuyên bố bị cáo Trịnh Quốc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trịnh Quốc H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/01/2025.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 7 Plus. Tịch thu tiêu hủy số Ketamine, MDMA và Methamphetamine hoàn trả sau giám định trong 02 phong bì niêm phong và 01 sim Viettel. (Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam và Chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Hà Nam ngày 03/4/2025).
- Tiếp tục quản lý, lưu trữ theo hồ sơ vụ án 01 USB được niêm phong trong phong bì.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trịnh Quốc H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Bình Lục; - Phòng Cảnh sát THA hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an tỉnh Hà Nam; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Hà Nam; - Chi Cục THA dân sự huyện B; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Thu Hằng |