vanban.org

Bản án 32/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị D và anh Nguyễn Thanh V.

Về con chung: Giao cho chị Trần Thị D trực tiếp nuôi con chung tên là Nguyễn Gia Huy sinh ngày 23/5/2019 cho đến khi từng con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, trừ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; Giao cho anh Nguyễn Thanh V trực tiếp nuôi con chung tên là Nguyễn T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị D và anh Nguyễn Thanh V.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST
Ngày 31-7-2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Văn Mạnh

Bà Nguyễn Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 164/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2025 , giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị D, sinh năm 1991; đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố Đông Tây, phường Thủy Hà, thành phố TN, thành phố Hải Phòng; Nay là: Tổ dân phố Đông Tây, phường Hòa Bình, thành phố Hải Phòng;nơi cư trú: Thôn Tân Sinh, xã Thành Bắc, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa; Nay là: Thôn Tân Sinh (Khu vực Thành Bắc), xã Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt( Có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh Xuân sinh năm 1991; đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 7, khu Vạn Yên, phường Việt Hưng, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: Biệt thự E1-A10, khu đô thị Nam Trung Yên, phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội (Theo Giấy ủy quyền ngày 24/3/2025); Vắng mặt( Có đơn xin giải quyết vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh V, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ dân phố Đông Tây, phường Thủy Hà, thành phố TN, thành phố Hải Phòng; Nay là: Tổ dân phố Đông Tây, phường Hòa Bình, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 31/3/2025 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là chị Trần Thị D và người đại diện theo ủy quyền là chị Nguyễn Thị Thanh Xuân trình bày:

1. Về hôn nhân: Chị D và anh Nguyễn Thanh V kết hôn vào năm 2014 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 10/10/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Trung Hà (Nay là UBND phường Hòa Bình), thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến cuối năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách hai bên không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống và lối sống, không có tiếng nói chung dẫn đến thường xảy ra cãi nhau, xúc phạm lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Cho nên từ giữa năm 2022 chị sống ly thân với anh V cho đến nay không ai còn quan tâm đến nhau nữa, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên sâu sắc, trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ nên chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh V.

2. Về con chung: Chị D trình bày chị và anh V có 02 con chung tên là Nguyễn Thiện Thanh sinh ngày 17/4/2015 và Nguyễn Gia Huy sinh ngày 23/5/2019. Khi ly hôn, chị đề nghị được tiếp tục trực tiếp nhận nuôi con chung Nguyễn Gia Huy và đồng ý để anh V tiếp tục trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Thiện Thanh. Về cấp dưỡng nuôi con chung để chị và anh V tự thỏa thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị D trình bày chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Thanh V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về việc kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về việc giao nộp tài liệu, chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản gửi đến Tòa án ghi ý kiến trình bày quan điểm về việc chị Trần Thị D xin ly hôn và giải quyết về con chung khi ly hôn, về tài sản chung vợ chồng.

Biên bản xác minh ngày 02/6/2025 tại Ủy ban nhân dân phường Thủy Hà (Nay là phường Hòa Bình), thành phố Hải Phòng thể hiện: Chị Trần Thị D và anh Nguyễn Thanh V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trung Hà (Nay là phường Hòa Bình), thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 10/10/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống, ăn ở cùng nhau tại xã Trung Hà nay là phường Hòa Bình, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2021 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng xảy ra cãi mắng lẫn nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn giữa vợ chồng đã được hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn, chị D đã sống ly thân với anh V và không còn quan tâm tới nhau nữa. Nay chị D nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn anh V, địa phương nhận tình cảm vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn đã kéo dài, không cò khả năng đoàn tụ nên đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật giải quyết. Về con chung: Chị D và anh V có 02 con chung tên là Nguyễn Thiện Thanh sinh ngày 17/4/2015 và Nguyễn Gia Huy sinh ngày 23/5/2019, trường hợp vợ chồng ly hôn đề nghị Tòa án xem xét nguyện vọng các bên giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung của vợ chồng: Đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng, đương sự chấp hành pháp luật. Về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 228 Bộ luật; Khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung số 85/2025/QH15 được Quốc Hội thông qua vào ngày 25 tháng 6 năm 2025 và các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử: Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị D và anh Nguyễn Thanh V; về con chung: Giao cho chị Trần Thị D trực tiếp nuôi con chung tên là Nguyễn Gia Huy sinh ngày 23/5/2019 và giao cho anh Nguyễn Thanh V trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Thiện Thanh sinh ngày 17/4/2015; cho đến khi từng con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, trừ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; về cấp dưỡng nuôi con chung và về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết; nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung số 85/2025/QH15 được Quốc Hội thông qua vào ngày 25 tháng 6 năm 2025.

. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị D và anh Nguyễn Thanh V đã được xác lập là hợp pháp (Giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 10/10/2014 tại Ủy ban nhân dân phường Hòa Bình, thành phố Hải Phòng). Căn cứ vào lời khai của đương sự và tài liệu điều tra xác minh tại địa phương thể hiện trong quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, từ năm 2022 mâu thuẫn trở nên sâu sắc, trầm trọng không thể hàn gắn tình cảm được, do mâu thuẫn vợ chồng nên chị D và anh V sống ly thân từ đó cho đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Thanh V nhưng anh Nguyễn Thanh V vắng mặt và không trình bày quan điểm về việc chị Trần Thị D xin ly hôn. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng có tồn tại làm cho hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, khả năng đoàn tụ không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị D yêu cầu ly hôn, căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho ly hôn giữa chị D và anh V.

. Về con chung: Chị D và anh V có 02 con chung tên là Nguyễn Thiện Thanh sinh ngày 17/4/2015 và Nguyễn Gia Huy sinh ngày 23/5/2019. Khi ly hôn, chị D đề nghị được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Gia Huy và đề nghị anh V được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Thiện Thanh. Việc giao con chung cho ai nuôi cần phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung. Xét thấy, chị D đang trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Gia Huy và anh Nguyễn Thanh V đang trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Thiện Thanh, việc nuôi con của chị Trần Thị D và anh Nguyễn Thanh V đã ổn định, con chung phát triển bình thường và được đảm bảo tốt. Con chung tên là Nguyễn Thiện Thanh có nguyện vọng được ở với anh V. Do vậy, cần giao con chung Nguyễn Gia Huy cho chị D tiếp tục trực tiếp nuôi và giao con chung Nguyễn Thiện Thanh cho anh V tiếp tục trực tiếp nuôi là phù hợp với các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh V không có trình bày quan điểm, yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về tài sản chung: Chị D không yêu cầu không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh V không có trình bày quan điểm, yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án này.

. Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

. Về quyền kháng cáo: Chị D và anh V có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung số 85/2025/QH15 được Quốc Hội thông qua vào ngày 25 tháng 6 năm 2025; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị D và anh Nguyễn Thanh V.

2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị D trực tiếp nuôi con chung tên là Nguyễn Gia Huy sinh ngày 23/5/2019 cho đến khi từng con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, trừ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; Giao cho anh Nguyễn Thanh V trực tiếp nuôi con chung tên là Nguyễn Thiện Thanh sinh ngày 17/4/2015 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, trừ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị D không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh Nguyễn Thanh V không có trình bày quan điểm, yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về tài sản chung: Chị Trần Thị D không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh Nguyễn Thanh V không có trình bày quan điểm, yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Chị Trần Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010784 ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN, thành phố Hải Phòng(Nay là: Thi hành án Dân sự thành phố Hải Phòng); Chị Trần Thị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

7. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ