vanban.org

Bản án 32/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 14/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Minh T 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/10/2023. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ MINH TRỌNG 249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG KHÁNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HS-ST
Ngày: 14-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Hoàng Thanh Tâm

2/ Ông Vũ Văn Thăng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hải, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện VKSND thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 23/2024/HS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo:

LÊ MINH T (Tên gọi khác: Cà Na), sinh năm 2004, tại Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú: Khu phố 1, phường X, thành phố L, Đồng Nai. Nơi cư trú: khu phố Ruộng Hời, phường Bảo Vinh, thành phố Long Khánh, Đồng Nai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh Toàn, sinh năm 1977 (chết) và bà Lê Thị Nguyễn Phú Hoàng T Xuân, sinh năm 1977. Tiền án: 01. Ngày 10/8/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 30/5/2023, chấp hành xong. Tiền sự: không.

Bị cáo Lê Minh T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2023 cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Long Khánh. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Phú Hoàng T, sinh năm 1996. Nơi cư trú: 140/38 Nguyễn Tri Phương, khu phố 4, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Chí C, sinh năm 1989. Nơi cư trú: khu phố 4, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1996. Địa chỉ: khu phố 4, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Minh T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy và hình thức sử dụng là hút ma túy đá (Methamphetamine).

Khoảng 08 giờ 00 ngày 04/10/2023, T đón xe khách đến khu vực ngã tư Thủ Đức thuộc thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh gặp người đàn ông tên Bé (chưa rõ nhân thân, lai lịch) mua 1.000.000 đồng được 02 bịch ma túy đá rồi mang về nhà lấy ra 01 ít sử dụng. Đến khoảng 21 giờ ngày 05/10/2023, T mang theo ma túy đá và 01 nỏ thủy tinh đến nhà Nguyễn Phú Hoàng T, sinh năm 1996, nơi cư trú 140/38 đường N, khu phố 4, phường X, thành phố L để mượn xe máy của Nguyễn Phú Hoàng T đi chơi nhưng không có Nguyễn Phú Hoàng T ở nhà. Sau đó, T vào nhà tắm của Nguyễn Phú Hoàng T để sử dụng ma túy. Do sợ Nguyễn Phú Hoàng T la vì mang ma túy đến nên T đã cất giấu 02 bịch ma túy đá trong lỗ gạch trước nhà vệ sinh và cất giấu 01 nỏ thủy tinh trong nhà tắm của Nguyễn Phú Hoàng T. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang ngồi chơi với Nguyễn Phú Hoàng T và Nguyễn Chí C, sinh năm 1989, nơi cư trú: khu phố 5, phường X, thành phố L thì bị Công an thành phố Long Khánh kiểm tra. Do sợ bị ảnh hưởng đến Nguyễn Phú Hoàng T nên T đã giao nộp 02 bịch ma túy đá và 01 nỏ thủy tinh. Công an thành phố Long Khánh đã niêm phong tang vật, bên ngoài có chữ ký của T theo đúng quy định pháp luật.

Tại Bản kết luận giám định số 2213/KL-KTHS ngày 11/10/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công anh tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng (thu giữ trong lỗ gạch trên tường trước cửa nhà vệ sinh) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 2,6799 gam, loại: Methamphetamine (bút lục số 40).

- Vật chứng thu giữ: 02 bịch nylong hàn kín, bên trong chứa ma túy; 01 bình nỏ thủy tinh.

Tại bản cáo trạng số: 23/CT-VKS-LK ngày 22/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh đã truy tố bị cáo T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành Long Khánh, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt:

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đề nghị tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và 01 bình nỏ thủy tinh.

Đối với người đàn ông tên Bé, người đã bán ma túy cho T, hiện nay chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Khánh sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Phú Hoàng T và Nguyễn Chí C, khi T mang ma túy và nỏ đến sử dụng thì cả hai không biết. Tuy nhiên, qua test nhanh thì Nguyễn Phú Hoàng T và C dương tính với ma túy nên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Khánh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 05/10/2023, tại số nhà 140/38 đường Nguyễn Tri Phương, khu phố 4, phường X, thành phố L, Công an thành phố Long Khánh bắt quả tang Lê Minh T có hành vi tàng trữ 2,6799 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội; nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đánh giá tính chất, mức độ của vụ án là rất nghiêm T, hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn xâm phạm trực tiếp đến trật tự, an toàn công cộng là tác nhân gây ra sự nghiện ngập, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, khả năng lao động của người sử dụng; việc sử dụng ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh một số tội phạm khác nên cần phải xử lý nghiêm.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 là “Tái phạm”. Đồng thời, bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được việc sử dụng ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì bản thân nghiện ma túy nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần có mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả hành vi của bị cáo gây ra, nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội, biết tuân thủ pháp luật đồng thời có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Ngoài ra, tại phiên tòa bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác.

Về tình tiết định khung hình phạt và quyết định hình phạt:

Mục đích bị cáo T cất giấu ma túy để sử dụng. Số ma túy thu giữ có khối lượng 2,6799 gam, loại: Methamphetamine. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo sẽ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:

“Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) ... Methamphetamine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”

Căn cứ tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo suy nghĩ về hành vi phạm tội của mình, rèn luyên, cải tạo, học tập, lao động trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội, biết tuân thủ pháp luật.

Ngoài hình phạt chính, Hội đồng xét xử không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và 01 bình nỏ thủy tinh.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

7 Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Đối với người đàn ông tên Bé, người đã bán ma túy cho bị cáo T, hiện nay chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Khánh sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Phú Hoàng T và Nguyễn Chí C, khi bị cáo T mang ma túy và nỏ đến sử dụng thì cả hai không biết. Tuy nhiên, qua test nhanh thì Nguyễn Phú Hoàng T và C dương tính với ma túy nên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Minh T 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/10/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và 01 bình nỏ thủy tinh (Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/01/2024).

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTTQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Minh T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tính từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự./.

Cỡ chữ