vanban.org

Bản án 32/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 28/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lộc Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lộc Văn N 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 10/01/2024. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật là chất ma túy còn lại sau giám định, 03 (ba) bơm kim tiêm và 03 (ba) lọ nước cất n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lộc Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lộc Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HS-ST
Ngày 28-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN,

TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hứa Thị Thanh Xuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Nhật Chiến.

Bà Lành Thị Thanh Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Hồng Hạnh – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Anh - Kiểm sát viên.

1

Ngày 28 tháng 3 năm 2024, tại hai điểm cầu (điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn), Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm, trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo:

Lộc Văn N, sinh ngày 07/11/1995 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn x, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở: Số xx, đường L, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; số căn cước công dân: 020095007549 cấp ngày 29/9/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội - Bộ Công an; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lộc Văn N1 và bà Hoàng Thị T; có vợ Lạc Thị H và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 97/QĐ-XPVPHC ngày 26/7/2017 của Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã xử phạt phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã được xóa tiền sự. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2024 đến nay. Có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Người chứng kiến: Ông Hoàng Văn T; vắng

2

mặt tại điểm cầu trung tâm.

* Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn có mặt:

- Người tiến hành tố tụng:

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn: Ông Lộc Văn Trung, Kiểm sát viên.

+ Ông Hoàng Duy Khánh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

+ Người tham gia tố tụng khác: Ông Lại Duy L, ông Vi Đoàn H, ông Phạm Hùng D- Cán bộ Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 40 phút, ngày 10/01/2024, Tổ công tác Công an phường T, thành phố Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa nhà số xx, đường N, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, phát hiện bắt quả tang Lộc Văn N đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần bên trái phía trước đang mặc của Lộc Văn N 02 gói giấy màu trắng có dòng kẻ màu đen cùng kích thước 0,9cm x 2,2cm, bên trong các gói giấy đều chứa chất bột màu trắng, Lộc

3

Văn N khai nhận đó là ma túy Heroin. Ngoài ra, còn thu giữ của Lộc Văn N 03 bơm kim tiêm và 03 lọ nước nhãn hiệu Novocain chưa qua sử dụng.

Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể Lộc Văn N, kết quả Lộc Văn N dương tính với chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 204/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Lộc Văn N là chất ma túy Heroin có khối lượng 0,163 gam (đã trừ bì);

Tại Cơ quan điều tra, Lộc Văn N khai nhận: Lộc Văn N đã sử dụng ma túy Heroin từ năm 2020 đến nay bằng hình thức tiêm chích. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 10/01/2024, Lộc Văn N đi bộ từ phòng trọ ở địa chỉ số xx, đường L, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn đến ngã tư P thuộc xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn gặp và mua 400.000 đồng ma túy Heroin với một người đàn ông tên là T2, không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể được 02 gói bọc bằng giấy màu trắng có dòng kẻ màu đen. Lộc Văn N cất 02 gói ma túy mua được vào túi quần bên trái phía trước đang mặc đi tìm nơi sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Người chứng kiến ông Hoàng Văn T trình bày: Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 10/01/2024, tại khu vực trước cửa nhà số xx, đường N, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, ông được lực lượng Công an mời chứng kiến việc khám xét một nam thanh niên tên là Lộc Văn

4

N, thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của Lộc Văn N 02 gói giấy màu trắng có dòng kẻ màu đen bên trong đều chứa chất bột màu trắng. Lộc Văn N khai nhận đó là ma túy Heroin mua về để bản thân sử dụng.

Tại Cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 12/3/2024, của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Lộc Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lộc Văn N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lộc Văn N như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lộc Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 47, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử phạt bị cáo Lộc Văn N từ 14 tháng đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10/01/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật là chất ma túy còn lại sau giám

5

định, 03 bơm kim tiêm và 03 lọ nước cất nhãn hiệu Novocain chưa qua sử dụng. Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa vắng mặt người chứng kiến, nhưng người chứng kiến đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của người chứng kiến không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử T2 hành xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng, việc thu thập tài liệu, chứng cứ của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về

6

hành vi, quyết định tố tụng của người T2 hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người T2 hành tố tụng đã thực hiện, các tài liệu chứng cứ đã thu thập đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Lộc Văn N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định hồi 13 giờ 40 phút ngày 10/01/2024, tại khu vực trước cửa nhà số xx, đường N, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, Lộc Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 0,163 gam ma túy Heroin mục đích để sử dụng.

Căn cứ vào Kết luận giám định số 204/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Lộc Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ tác hại của ma túy ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự an toàn xã hội

7

nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy.

Để có căn cứ quyết định hình phạt, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, đã từng bị xử lý hành chính, tuy đã được xóa tiền sự nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân chưa tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, tại phiên tòa bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo kết quả xác minh ngày 19/02/2024 thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng

8

xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong đựng chất ma túy còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành, 03 bơm kim tiêm và 03 lọ nước cất nhãn hiệu Novocain là vật bị cáo dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, không có giá trị, cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với người đàn ông tên là T2 không rõ lai lịch bán ma túy cho bị cáo ngày 10/01/2024 tại ngã tư Phai Trần, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được ai tên là T2 có đặc điểm như bị cáo mô tả, nên chưa xác minh làm rõ được để xử lý. Kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đề nghị xem xét miễn nộp án phí sơ thẩm nên Hội đồng xét xử miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn là có căn cứ, phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

9

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 296, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lộc Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lộc Văn N 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 10/01/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật là chất ma túy còn lại sau giám định, 03 (ba) bơm kim tiêm và 03 (ba) lọ nước cất nhãn hiệu Novocain.

(Các vật chứng nêu trên được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn).

10

4. Về án phí: Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lộc Văn N.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lộc Văn N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ