- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lữ Văn K 01 (Một) năm 02 (H1) tháng tù về tội.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2024/HS-ST Ngày 22-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Cường
Ông Nguyễn Minh Quang
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đinh Ngọc Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lữ Văn K, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 27 tháng 7 năm 2001 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Bản K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lữ Văn C và con bà Xên Thị T; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10 tháng 01 năm 2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng : Anh Cao Văn T1. Vắng mặt tại phiên tòa
- Người chứng kiến: Anh Đồng Văn G. Vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 10/01/2024, Lữ Văn K thuê xe máy lai của anh Cao Văn T1 (Sinh năm 1972, trú tại bản Phòng, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An) đi từ Ngã 3 C, xã X, huyện T đến bản L, xã L, huyện T với mục đích tìm mua ma tuý về để sử dụng (K không nói cho anh T1 biết mục đích của K đi mua ma tuý). Đến nơi, Lữ Văn K xuống xe, rồi một mình đi bộ vào trong khu vực bản Lạ, tìm gặp và mua của một người đàn ông tên T2 (Không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) được 01 (Một) gói Heroine với giá 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng. Sau đó, Lữ Văn K cất số H vừa mua được vào trong túi quần phía bên trái của K đang mặc, rồi đi bộ ra nơi anh T1 đang đứng chờ để về nhà. Đến 19 giờ cùng ngày, khi anh Cao Văn T1 chở Lữ Văn K về đến bản X, xã X, huyện T, thì bị tổ công tác công an huyện T, tỉnh Nghệ An kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ của Lữ Văn K, 01 (Một) gói được gói bằng bao ni lông màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng. Lữ Văn K khai nhận số chất bột màu trắng là Heroine của K mua về để sử dụng
Kết luận giám định số 165 ngày 16/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lữ Văn K gửi đến giám định là ma tuý (Heroine), có khối lượng 0,97 (Không phẩy chín mươi bảy) gam
Bản Cáo trạng số 27/CT-VKS-TD ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố Lữ Văn K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: Lữ Văn K mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lữ Văn K đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người làm chứng, người chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào 19 giờ ngày 10/01/2024, tại bản X, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An. Lữ Văn K đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,97 (Không phẩy chín mươi bảy) gam Heroine, nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra, bị cáo có ông nội Lữ Đình C1 và ông ngoại Xên Văn D là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo
Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với anh Cao Văn T1, là người đã chở Lữ Văn K đi mua ma tuý ở bản L, xã L, huyện T. Do anh T1 không biết việc mình chở K đi mua ma tuý, nên hành vi của anh Cao Văn T1 không cấu thành tội phạm.
Đối với người đàn ông tên T2 đã bán ma tuý cho Lữ Văn K ở khu vực bản L, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An. Do K không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ.
Xử lý vật chứng: 0,97 (Không phẩy chín mươi bảy) gam Heroine (Đã lấy 0,2 gam đi giám định). Vật chứng còn lại là 0,77 (Không phẩy bảy mươi bảy) gam Heroine cùng vỏ gói và phong bì niêm phong cũ là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;
Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lữ Văn K 01 (Một) năm 02 (H1) tháng tù về tội. “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 10/01/2024.
[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án;
(Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 11.4.2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An);
[3] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH buộc bị cáo Lữ Văn K chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm
[4] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 22/5/2024.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh NA; - VKSND huyện Tương Dương; - Công an huyện Tương Dương; - UBND TT. Thạch Giám; - Bị cáo, Trại tạm giam; - Sở Tư Pháp tỉnh Nghệ An; - Chi cục THADS huyện Tương Dương; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Cường |