- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Thu M- Bùi Thanh H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị Thu M đối với bị đơn anh Bùi Thanh H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ DĨ ANBản án số: 32/2024/HNGĐ-ST TỈNH BÌNH DƯƠNG Ngày: 28/02/2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Công. Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Văn Nhung;
2. Bà Phạm Tú Nhi.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 354/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2024/QĐST- HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Thu M, sinh năm 1999; thường trú: Số B, Đường D, khu tái định cư Đ, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương; chỗ ở: Số A, khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Bùi Thanh H, sinh năm 1997; thường trú: Số B, Đường D, Khu tái định cư Đ, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Trương Thị Thu M trình bày:
Chị M và anh Bùi Thanh H có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 02 năm thì tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 58 cấp ngày 14/12/2021. Sau khi kết hôn hai vợ chồng tại số B, Đường D, Khu tái định cư Đ, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Hai vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là bất đồng quan điểm sống, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mỗi người có cuộc sống riêng, hiện nay hai vợ chồng sống ly thân. Nay chị M xác định tình cảm với anh H nên đề nghị được ly hôn với anh H.
Về con chung: Trong quá trình chung sống chị M và anh H có 01 con chung tên Bùi Thanh H1, sinh ngày 22/07/2021. Sau khi ly hôn, chị M yêu cầu là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Bùi Thanh H: Tòa án đã triệu tập hợp lệ để cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 08/01/2024; tham gia phiên tòa vào các ngày 02/02/2024 và ngày 28/02/2024 nhưng vắng mặt không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu của chị M và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án.
- Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Trương Thị Thu M và anh Bùi Thanh H do Tòa án tiến hành ngày 17/10/2023, chính quyền địa phương cung cấp thông tin như sau: Chị M và anh H trước khi nộp đơn khởi kiện xin ly hôn tại Tòa án chị M không yêu cầu chính quyền địa phương tổ chức hòa giải cơ sở. Quá trình chung sống thực tế mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, vấn đề chăm sóc, nuôi dạy con chung như thế nào chính quyền địa phương không nắm rõ vì không thấy đại diện khu phố hay địa phương phản ánh hay cung cấp thông tin gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn được triệu tập 02 lần tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
Về hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống không hạnh phúc do mâu thuẫn kéo dài, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, nguyên đơn yêu cầu ly hôn và giải quyết về con chung là có cơ sở chấp nhận. Về tài sản chung và nợ chung nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào các ngày 02/02/2024 và 28/02/2024 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2021, chị Trương Thị Thu M và anh Bùi Thanh H tự nguyện tìm hiểu tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 58 cấp ngày 14/12/2021 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích, vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Nguyên đơn xác định sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên cải vã, bất đồng quan điểm sống, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hiện tại vợ chồng sống ly thân. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập bị đơn đến làm việc, hòa giải nhằm mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bị đơn không có mặt. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng chị M và anh H. Do, đó nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Tòa án chấp nhận. [2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống chị M và anh H có 01 con chung tên Bùi Thanh H1, sinh ngày 22/07/2021. Hiện con chung đang ở cùng với mẹ, nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng. Việc giao con chung cho ai nuôi cần phải xem xét về mọi mặt của con chưa thành niên. Trong suốt quá trình tố tụng, mặc dù đã được Tòa án niêm yết các văn bản có nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn về việc nuôi dưỡng con chung cho bị đơn nhưng bị đơn không có ý kiến phản đối gì. Xét thấy, cháu H1 còn nhỏ, hiện đang sống với chị M, đồng thời nguyên đơn chị M có nơi ở và công việc ổn định nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giao con chung Bùi Thanh H1 cho nguyên đơn chị M trực tiếp nuôi dưỡng, là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 [2.3] Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trương Thị Thu M không yêu cầu anh Bùi Thanh H phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyên của nguyên đơn chị M. [2.4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ cở chấp nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương là phù hợp.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị Thu M đối với bị đơn anh Bùi Thanh H.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Thu M được ly hôn với anh Bùi Thanh H. (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 58 do Ủy ban nhân dân phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 14/12/2021).
Về con chung: Giao con chung Bùi Thanh H1, sinh ngày 22/07/2021 cho chị Trương Thị Thu M trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trương Thị Thu M không yêu cầu anh Bùi Thanh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn chị Trương Thị Thu M và anh Bùi Thanh H có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Chị Trương Thị Thu M phải tạo điều kiện cho anh Bùi Thanh H trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
2. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trương Thị Thu M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí về ly hôn được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006847 ngày 05/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
4. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |