vanban.org

Bản án 32/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Các điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Kim C1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Kim C1 được ly hôn với anh Nguyễn Văn H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con giữa nguyên đơn Lê Thị Kim C1 và bị đơn Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Các điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀ ÔN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 02-5-2024
V/v tranh chấp ly hôn
và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Võ Hồng Quận.

2/ Ông Nguyễn Quốc Triều.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Diệu Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 407/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim C1, sinh năm 1986. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1983. Vắng mặt

Địa chỉ: ấp S, xã X, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 15/8/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Kim C1 trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn H thành hôn năm 2010 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng ngày 05/3/2010. Thời gian vợ chồng chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn do anh H thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình nên chị không thể sống chung với anh H, vợ chồng đã cắt đứt quan hệ từ năm 2011 đến nay anh H cũng không tới lui thăm nom chăm sóc con chung. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H. Về con chung, chị và anh H có 01 con chung tên Nguyễn Chí M, sinh ngày 26/5/2010 hiện đang sống chung với chị, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung, chị không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn H đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Toà án.

Tại biên bản xác minh ngày 27/3/2023 ông Đặng Văn C2 trình bày: Chị C1, anh H thành hôn vợ chồng sống chung tại tỉnh Lâm Đồng. Anh H có cha mẹ đang sống tại địa phương, cũng có về địa phương nhưng không thường xuyên nên ông không biết vợ chồng anh H xảy ra mâu thuẫn gì. Tòa án có đến tống đạt các văn bản tố tụng nhưng cha mẹ anh H không đồng ý nhận thay và có thông báo cho anh H biết việc chị C1 khởi kiện tại Tòa án.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Lê Thị Kim C1 vắng mặt có đơn yêu cầu vắng mặt.

Bị đơn anh Nguyễn Văn H vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn phát biểu:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán được phân công thụ lý và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

- Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến, không tham gia đầy đủ các phiên hòa giải, phiên họp công khai chứng cứ là vi phạm quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về hướng giải quyết vụ án:

Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 19, 51, 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Kim C1 được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Chí M, sinh ngày 26/5/2010 cho chị C1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Kim C1 có nghĩa vụ nộp 300.000đ án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Thị Kim C1 vắng mặt có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn H vắng mặt không lý do. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự trên.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Lê Thị Kim C1 và anh Nguyễn Văn H thành hôn năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng ngày 05/3/2010 nên xem đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Trong quá trình chung sống, giữa chị Lê Thị Kim C1 và anh Nguyễn Văn H có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, anh H có hành vi bạo lực gia đình nên vợ chồng đã cắt đứt quan hệ từ năm 2011 đến nay. Mặt khác, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập đương sự nhiều lần để tham gia hòa giải nhưng anh H vắng mặt không lý do, chứng tỏ anh H không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị C1 là phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Giữa chị Lê Thị Kim C1 và anh Nguyễn Văn H có 01 con chung tên Nguyễn Chí M, sinh ngày 26/5/2010 hiện đang sống chung với chị C1, chị C1 yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Nguyễn Chí M có ý văn bản thể hiện ý kiến muốn được sống chung với mẹ. Bị đơn anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án thông báo về việc khởi kiện của chị C1 nhưng không có ý kiến gì về việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Do đó, để ổn định cuộc sống và theo nguyện vọng của con chung từ 07 tuổi trở lên nên cần giao cháu Nguyễn Chí M, sinh ngày 26/5/2010 cho chị Lê Thị Kim C1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con. Chị Lê Thị Kim C1 là người đang trực tiếp nuôi con nhưng không yêu cầu vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị Kim C1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Kim C1 phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn theo quy định điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát có căn cứ chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng: Các điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Kim C1.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Kim C1 được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Chí M, sinh ngày 26/5/2010 cho chị Lê Thị Kim C1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị Kim C1 có nghĩa vụ nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0010913 ngày 08/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, chị C1 đã nộp đủ. .

4. Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ