- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ánh Kiên"
- Tòa quyết gì? Về việc nuôi con: Căn cứ các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; xử: Giao cho chị Vũ Minh Á trực tiếp nuôi con chung Vũ Tuấn K1, sinh ngày 02- 11- 2022.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15- 4- 2024 V/v: Ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Xuân Trường;
Ông Đoàn Trung Tuyến.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 20/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Minh Á, sinh năm 2004; địa chỉ: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; "vắng mặt".
- Bị đơn: Anh Vũ Xuân K, sinh năm 2000; địa chỉ: Xóm D, xã B, huyện G, tỉnh Nam Định; "vắng mặt".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Vũ Minh Á trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Xuân K tự nguyện tìm hiểu, kết hôn đã được Ủy ban nhân dân xã B cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 14- 6- 2022. Sau đó, vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân là do anh K không chăm lo cho cuộc sống gia đình. Vợ chồng sống cùng nhau được một thời gian ngắn thì đến ngày 10- 9- 2022 thì sống ly thân. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh Vũ Xuân K, không còn cơ hội hàn gắn hạnh phúc nên chị xin ly hôn anh Vũ Xuân K.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Tuấn K1, sinh ngày 02- 11-2022; hiện đang sống cùng chị. Nay ly hôn chị nhận trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Chị không đề nghị giải quyết.
Ý kiến của anh Vũ Xuân K: Anh Vũ Xuân K nhất trí với chị Vũ Minh Á về quan hệ hôn nhân và việc nuôi con chung như chị Á trình bày. Anh nhất trí ly hôn và nhất trí để chị Á nuôi con chung theo yêu cầu của chị Á. Anh xin vắng mặt không đến Tòa án giải quyết vụ án.
Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ tại xã B, huyện G: Việc kết hôn, chung sống vợ chồng, nuôi con chung như các đương sự trình bày.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Minh Á đối với anh Vũ Xuân K; căn cứ các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cho chị Vũ Minh Á trực tiếp nuôi con chung Vũ Tuấn K1, sinh ngày 02- 11- 2022.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Vũ Minh Á và bị đơn anh Vũ Xuân K đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Minh Á và anh Vũ Xuân K kết hôn hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng của chị Á và anh K không có hạnh phúc, đã sống ly thân. Nay chị Á xin ly hôn, anh K nhất trí. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình, đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Minh Á về việc xin ly hôn anh Vũ Xuân K.
Về việc nuôi con: Xác định vợ chồng chị Vũ Minh Á và anh Vũ Xuân K có 01 con chung là Vũ Tuấn K1, sinh ngày 02- 11- 2022. Căn cứ vào điều kiện và nguyện vọng của các đương sự, đủ cơ sở giao cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng con chung; chị Vũ Minh Á không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Anh Vũ Xuân K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về án phí: Chị Vũ Minh Á là nguyên đơn nên phải nộp án phí.
Các đương sự đều vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; xử: Cho ly hôn giữa chị Vũ Minh Á và anh Vũ Xuân K.
2. Về việc nuôi con: Căn cứ các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; xử: Giao cho chị Vũ Minh Á trực tiếp nuôi con chung Vũ Tuấn K1, sinh ngày 02- 11- 2022. Anh Vũ Xuân K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc chị Vũ Minh Á phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0004475 ngày 25- 01- 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy. Chị Vũ Minh Á đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự: 02 bản; - VKSND huyện Giao Thủy: 01 bản; - VKSND tỉnh Nam Định: 01 bản; - Chi cục THADS huyện Giao Thủy: 01 bản; - UBND xã Bình Hòa: 01 bản; - Lưu hồ sơ: 02 bản. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Duyên |