vanban.org

Bản án 32/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Nguyễn Võ Hoàng Linh V phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT số tiền 66.597.200 đồng tạm tính đến ngày 21/02/2024 (Bao gồm: Nợ gốc là 47.721.486 đồng; Lãi quá hạn là 17.951.728 đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (Áp dụng cho chủ thẻ là khách hàng cá nhân) ngày 2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín - Vũ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 11/2012/NĐ-CP Về sửa đổi, bổ sung một số điều c…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN Về việc ban hành Quy chế cho…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHÀ BÈ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/DS-ST
Ngày: 21-02-2024.
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Võ Văn Chiến

2/ Bà Nguyễn Ngọc Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 482/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2183/2023/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2024/QĐST-DS ngày 25 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT.

Địa chỉ trụ sở: X Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1993 (Có mặt)

Địa chỉ liên hệ: Số A đường Nguyễn Thị Thập, phường Tân Quy, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Văn bản ủy quyền số 10-10/GUQ-CNQ7 ngày 10/10/2023)

Bị đơn: Ông Nguyễn Võ Hoàng Linh V, sinh năm 1983 (Vắng mặt);

Địa chỉ: S Khu phố 5, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 10 tháng 10 năm 2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn D trình bày:

Ngày 25/01/2022, ông Nguyễn Võ Hoàng Linh V và Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) có giao kết và thực hiện hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Áp dụng cho chủ thẻ là khách hàng cá nhân) bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng.

Hạn mức sử dụng thẻ là 40.000.000 đồng. Sau khi cấp được cấp thẻ tín dụng ông Nguyễn Võ Hoàng Linh V đã thực hiện các giao dịch để Ngân hàng giải ngân với số tiền 82.865.997 đồng. Ông Vũ đã nộp vào Ngân hàng để thanh toán được 53.879.608 đồng. Từ ngày 11/01/2023 đến nay ông Vũ không nộp tiền vào Ngân hàng để thanh toán nợ gốc và tiền lãi cho Ngân hàng theo như theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết.

Tính đến ngày 21/02/2024, ông Vũ còn nợ Ngân hàng số tiền 66.597.200 đồng, trong đó: Nợ gốc là 47.721.486 đồng; Lãi quá hạn là 17.951.728 đồng.

Do vậy, Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT khởi kiện và yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Võ Hoàng Linh V phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền 66.597.200 đồng và phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh tính từ sau ngày 21/02/2024 (Là ngày xét xử sơ thẩm) cho đến khi trả hết nợ.

Do hợp đồng tín dụng cấp cho khách hàng là cá nhân nên Ngân hàng chỉ khởi kiện cá nhân ông Vũ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; các văn bản tố tụng của Tòa án để ông Vũ là bị đơn đến làm việc và tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng ông Vũ vẫn vắng mặt không do trở ngại khách quan và cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt đương sự đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết:

Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Võ Hoàng Linh V phải trả nợ theo hợp đồng tín dụng. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự. Ông Nguyễn Võ Hoàng Linh V là bị đơn có nơi cư trú tại huyện Nhà Bè nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vắng mặt bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Võ Hoàng Linh V là bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng để tiếp cận công khai thu thập chứng cứ và hòa giải và để ông Vũ tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không do trở ngại khách quan và cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Vũ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (Áp dụng cho chủ thẻ là khách hàng cá nhân) ngày 25/01/2022 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để xác định:

Ngày 25/01/2022, giữa Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT và ông Nguyễn Võ Hoàng Linh V phát sinh giao dịch dân sự là hợp đồng tín dụng. Theo đó, Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT đã cấp cho ông Vũ thẻ tín dụng có hạn mức. Sau khi được cấp thẻ ông Vũ đã được Ngân hàng giải ngân để thực hiện các giao dịch với số tiền 82.865.997 đồng. Ông Vũ đã nộp vào Ngân hàng được 53.879.608 đồng theo cam kết trong hợp đồng tín dụng.

Tính đến ngày 21/02/2024, ông Vũ còn nợ Ngân hàng số tiền 66.597.200 đồng, trong đó: Nợ gốc là 47.721.486 đồng; Lãi quá hạn là 17.951.728 đồng là vi phạm cam kết trả nợ được quy định trong hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Do đó, Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT yêu cầu ông Nguyễn Võ Hoàng Linh V phải trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 21/02/2024 là 66.597.200 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 22/02/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ gốc là hoàn toàn có cơ sở nên được chấp nhận.

Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 3.329.860 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí.

Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.395.987 đồng theo biên lai thu số AA/2023/0007709 ngày 20 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 184; Điều 227; Điều 228 Điều 266; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

- Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Điều 11 Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001;

- Căn cứ Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Buộc ông Nguyễn Võ Hoàng Linh V phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT số tiền 66.597.200 đồng tạm tính đến ngày 21/02/2024 (Bao gồm: Nợ gốc là 47.721.486 đồng; Lãi quá hạn là 17.951.728 đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (Áp dụng cho chủ thẻ là khách hàng cá nhân) ngày 25/01/2022.

Các bên thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày 22/02/2024 khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Võ Hoàng Linh V phải chịu án phí 3.329.860 đồng.

- Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.395.987 đồng theo biên lai thu số AA/2023/0007709 ngày 20 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ