vanban.org

Bản án 32/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 10/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lâm Tấn M phạm tội “Đánh bạc”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lâm Tấn M 18 ( mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Lâm Tấn M cho UBND phường H, TP. Quy Nhơn, Bình Định giám sát và giáo dục. Thời hạn thi hành án tính từ ngày UBND phường Hải Cảng nhận được bản án và quyết định thi hành án. Gia đình bị cáo Lâm Tấn M có t…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Tấn M phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lâm Tấn M phạm tội “Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/HSST
Ngày: 10-03-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thảo Linh Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thuý

2. Bà Phạm Thị Tú Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Trúc Phương là Thư ký của Toà án nhân dân Tp. Quy Nhơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 03 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân, Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2023/HSST ngày 31/01/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXXST-HS ngày 27/02/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lâm Tấn M (Thường gọi: T), sinh năm 1967 tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; Nơi ĐKNKTT: Tổ 20, khu vực 4, phường H, Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; Chỗ ở: Hẻm 07 Lê Đức T, khu vực 3, phường H, Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Lái xe ôm; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lâm Thành P (đã chết) và bà: Võ Thị X (đã chết); Vợ: Liễu Thị Ánh N, sinh năm 1971, có 01 người con sinh năm 1995; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 17/02/2022, bị Công an phường Hải Cảng, Tp. Quy Nhơn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đồng về hành vi “Đánh bạc”; Nhân thân: Ngày 12/9/1988, bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/11/2022 cho đến nay; Bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Đinh Thị Bích L, sinh năm 1947; Nơi cư trú: Tổ 41, khu vực 7, phường N, Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bà Đỗ Thị Bích D, sinh năm 1956; Nơi cư trú: Tổ 12, khu vực 3, phường H, Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

3. Bà Phạm Thị T, sinh năm 1963; Nơi ĐKNKTT: Tổ 18/17 Ô2, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Chỗ ở: Khu vực 3, phường L, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

4. Bà Bùi Thị Thu H, sinh năm 1971; Nơi ĐKNKTT: Tổ 31, khu vực 6, phường H, Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; Chỗ ở: Số nhà 66 P, phường H, Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 26/9/2022, Lâm Tấn M, Đỗ Thị Bích D, Đinh Thị Bích L, Phạm Thị T ăn cơm tại quán của Bùi Thị Thu H tại 66 P, P. H, TP. Quy Nhơn. Lúc này, M, D, L, T rủ nhau đánh bài thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài Phỏm. Cả nhóm nói với H lên tầng 2 quán đánh bài và nhờ H đi mua 01 cây bài tây (gồm 10 bộ bài tây, loại 52 lá), thỏa thuận sẽ chung tiền xâu cho H sau khi chơi xong, H đồng ý. Sau khi H mua bài mang về, M, D, L, T lên tầng 02 của quán cùng nhau đánh bài dưới hình thức Phỏm. Mỗi người chơi sẽ được chia 09 lá bài, riêng người chia bài được chia 10 lá bài để đánh trước một lá bài, người tiếp theo có thể “ăn” lá bài đó để tạo thành “Phỏm” hoặc bốc 01 lá bài trong nọc sau đó đánh ra 01 lá bài (có thể là lá bài vừa bốc) cho người kế tiếp. Cứ như vậy đến khi hết vòng. Ván bài kết thúc khi có 01 người “Ù” (tất cả 09 hoặc 10 lá bài đều tạo thành “Phỏm”); nếu không có ai “Ù” thì sau 04 lượt ván bài sẽ kết thúc, hạ “Phỏm” tính điểm bằng cách cộng điểm các quân bài lẻ không thuộc “Phỏm” nào lại với nhau, ai có số điểm ít nhất là người thắng. Điểm được tính từ 01 đến 13 tương ứng: lá bài chữ A là 01 điểm, lá bài có số từ 02 đến 10 tính tương ứng theo số trên bài, lá bài có chữ J là 11 điểm, chữ Q là 12 điểm và chữ K là 13 điểm. Người về thứ nhất sẽ lấy của người về thứ hai 5.000 đồng, lấy của người về thứ ba 10.000 đồng, lấy của người về thứ tư 15.000 đồng. Ai không có “Phỏm” thì thua 20.000 đồng. Khi bị ăn là bài rác đánh lượt thứ 4 thì chung cho người ăn số tiền 15.000 đồng; người chơi bị ăn lá bài đầu tiên thì thua 5.000 đồng; ăn lá bài thứ 2 thì thua 10.000 đồng; ăn lá bài thứ 3 thì người thua đền bài, chung số tiền tương ứng với “Ù” hay “Ù tròn” cho người thắng. Nếu có người “Ù thường” thì sẽ lấy của 03 người còn lại mỗi người 30.000 đồng còn “Ù tròn” sẽ lấy những người còn lại mỗi người 60.000 đồng. Sau khi kết thúc ván chơi, người chơi có “Phỏm” còn tính tiền lá bài “K” với 5.000 đồng/1 lá bài “K”/01 người; nếu người chơi cùng có lá bài “K” thì ai là người có nhiều “K” hơn sẽ thắng, cùng số lá bài “K” thì tính Cơ, Rô, Chuồn, Bích (theo thứ tự từ lớn đến nhỏ). Mỗi ván thắng “Ù” thì người thắng sẽ bỏ ra 10.000 đồng “tiền xâu” hoặc khi thay bộ bài khác thì mỗi người bỏ ra 10.000 đồng “tiền xâu” đưa cho H.

Đến 15 giờ 40 phút cùng ngày, Công an phường Hải Cảng, TP. Quy Nhơn kiểm tra, phát hiện và thu giữ của 04 đối tượng số tiền 960.000 đồng và 10 bộ bài Tây.

Số tiền 04 đối tượng dùng để đánh bạc như sau: Lâm Tấn M sử dụng số tiền 180.000 đồng, Đỗ Thị Bích D sử dụng số tiền 100.000 đồng, Đinh Thị Bích L sử dụng số tiền 220.000 đồng, Phạm Thị T sử dụng số tiền 460.000 đồng để tham gia đánh bạc. Tại thời điểm bị phát hiện, số tiền xâu góp được là 80.000 đồng, M đang thắng số tiền 60.000 đồng, L đang thua số tiền 120.000 đồng, D đang thua số tiền 75.000 đồng, T đang thắng số tiền 55.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quy Nhơn hiện còn đang tạm giữ: 10 bộ bài Tây đã qua sử dụng; số tiền 960.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSQN ngày 30/01/2023 Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn truy tố bị cáo Lâm Tấn M về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nên Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lâm Tấn M về tội “Đánh bạc”. Tuy nhiên, bị cáo Lâm Tấn M có nơi cư trú rỏ ràng, đã thành khẩn khai báo, nên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình, xử phạt bị cáo Lâm Tấn M từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 960.000 đồng.

- Tịch thu tiêu hủy: 10 bộ bài Tây đã qua sử dụng.

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Lâm Tấn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Vào chiều ngày 26/09/2022, tại số nhà 66 P, phường H, thành phố Quy Nhơn, bị cáo Lâm Tấn M cùng bà Đỗ Thị Bích D, Đinh Thị Bích Liên, Phạm Thị T rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Phỏm” thắng thua bằng tiền. Bị cáo M, bà D, bà L, bà T đánh bạc đến 15 giờ 40 phút cùng ngày thì Công an phường H, TP. Quy Nhơn kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang với tổng số tiền đánh bạc và dùng để đánh bạc là 960.000đồng.

Bị cáo Lâm Tấn M có đầy đủ sức khỏe, năng lực để nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải biết cờ bạc là tệ nạn của xã hội là một trong những nguyên nhân gây ra các tội phạm khác, nhưng vì hám lợi bất chính bị cáo đã đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Phỏm” với số tiền 960.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn truy tố bị cáo Lâm Tấn M về tội “Đánh bạc” với tình tiết định khung “Dưới 5.000.000đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trị an ở địa phương nên phải xử phạt tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về nhân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng có khả năng tự cải tạo tốt. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ để bị cáo tự cải tạo trong sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục.

Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự thì bị cáo Lâm Tấn M còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo Lâm Tấn M có thu nhập và nghề nghiệp không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn đã thu giữ 10 bộ bài tây đã qua sử dụng và số tiền 960.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với số tiền 960.000 đồng, đây là tiền đánh bạc mà có nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với 10 bộ bài Tây, bị cáo sử dụng để đánh bạc là tang vật của vụ án, không có giá trị kinh tế nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Lâm Tấn M bị kết án về tội “Đánh bạc” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về vấn đề khác:

Đối với bà Đỗ Thị Bích D, bà Đinh Thị Bích L, bà Phạm Thị T có hành vi tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền nhưng số tiền dùng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Bà D, bà L, bà T chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về tội đánh bạc, gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc nên hành vi của bà D, bà L và bà T không phạm tội “Đánh bạc”. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Quy Nhơn không xử lý hình sự đối với bà D, bà L, bà T là có căn cứ.

Đối với bà Bùi Thị Thu H có hành vi sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý của mình và cung cấp bài để bị cáo Lâm Tấn M, bà Đỗ Thị Bích D, bà Đinh Thị Bích L, bà Phạm Thị T đánh bạc trái phép nhằm mục đích thu tiền xâu. Số tiền mà những người đánh bạc dùng vào việc đánh bạc là 960.000 đồng và hành vi của bà Hạnh không thuộc các trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự nên không phạm tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Quy Nhơn không xử lý hình sự đối với bà Bùi Thị Thu H là có căn cứ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và đề nghị phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lâm Tấn M phạm tội “Đánh bạc”

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lâm Tấn M 18 ( mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Lâm Tấn M cho UBND phường H, TP. Quy Nhơn, Bình Định giám sát và giáo dục. Thời hạn thi hành án tính từ ngày UBND phường Hải Cảng nhận được bản án và quyết định thi hành án. Gia đình bị cáo Lâm Tấn M có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường H trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1 Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 960.000đồng (chín trăm sáu mươi nghìn đồng).

3.2 Tịch thu tiêu hủy: 10 (mười) bộ bài T, đã qua sử dụng.

(Theo ủy nhiệm chi lập ngày 02/02/2023 đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.1054089 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 02 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn).

4. Án phí: Bị cáo Lâm Tấn M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ