- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số 32/2023/HSST bị cáo Phạm Thị Thu H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luậ…"
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ______________ Bản án số: 32/2023/HSST Ngày: 21/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu H1.
Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị O và bà Vũ Hải A.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang V – Thư ký TA.
Đại diện VKSND huyện K: Bà Đặng Thị H2 - KSV.
Hôm nay, ngày 21/3/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2023/HSST ngày 03/03/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2023/HSST-QĐXX ngày 73/3/2023 đối với bị cáo Phạm Thị Thu H, sinh năm: 1977; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã Đ1, huyện H3, thành phố H4; Nơi tạm trú: thôn Y, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phạm Văn L và bà Nguyễn Thị T; Anh, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con lớn; Có chồng là Nguyễn Tử L1 (Đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án số 46/2015/HSST, ngày 26/6/2015 bị Tòa án nhân dân huyện G, thành phố H4 xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 07/3/2017. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/11/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên (Có mặt tại phiên toà).
Những người làm chứng:
1. Ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1961;
2. Ông Dương Văn K1, sinh năm 1972; Đều trú tại: thôn Y, xã D, huyện K tỉnh Hưng Yên (Đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Sáng ngày 25/11/2022, Phạm Thị Thu H, thường trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện H3, thành phố H4 đi từ nhà trọ ở thôn Y, xã D, huyện K đến khu vực chợ dân sinh ngã tư T2 thuộc xã Y1, huyện Y2 để thu mua trái cây mang lên thành phố H4 bán kiếm lời. Tại đây H nghe thấy một người thanh niên lạ mặt khoảng 20 tuổi đang nói chuyện với bạn về việc sử dụng ma túy “đá”. Do là người nghiện ma túy nên H nhờ người này mua hộ 500.000 đồng ma túy "đá” (ý H nhờ mua ma túy loại Methamphetamine). Người thanh niên đồng ý nên H đưa cho người này số tiền là 500.000 đồng. Sau khi nhận tiền, người thanh niên lấy từ trong người ra 01 túi nilon màu trắng, miệng túi gắn kín có viền màu xanh, bên trong có chất kết tinh màu trắng đưa cho H. Biết đó là ma túy “đá” nên H cất vào túi quần bên phải rồi tiếp tục mua trái cây mang lên thành phố H4 bán. Đến buổi chiều cùng ngày, H về phòng trọ thuê của gia đình ông Đỗ Chí T3 sinh năm 1957 ở thôn Y, xã D, huyện K lấy một phần ma túy đã mua ra sử dụng, phần còn lại H cất trong cốc thủy tinh màu trắng đặt ở phòng trọ. Đến khoảng 17 giờ 00 phút ngày 29/11/2022 khi Công an xã D kiểm tra hành chính khu nhà trọ của ông Đỗ Chí T3, H đã tự giác giao nộp túi nilon chứa ma túy trong cốc thủy tinh cho Cơ quan Công an. Công an xã D đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định và chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc cùng đối tượng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K để xử lý theo thẩm quyền.
Tại bản Kết luận giám định số 446/KL-KTHS(MT) ngày 02/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong có khối lượng là: 0,480 gam, là ma túy, loại: Methamphetamine. Hoàn lại 0,461 gam Methamphetamine sau giám định.
Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKSKC, ngày 03/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015.
Tại phiên toà hôm nay: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo H và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS năm 2015; Đề nghị xử phạt bị cáo H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 29/11/2022; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo H. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K còn đề nghị về đường lối xử lý vật chứng trong vụ án.
Bị cáo H nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, đồng thời thành khẩn khai báo nhận tội, thái độ ăn năn hối cải, được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo ở mức án thấp nhất.
Tại phiên toà hôm nay những người làm chứng là ông Đỗ Văn T1 và ông Dương Văn K1 đều đã được triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, tuy nhiên trong hồ sơ vụ án họ đã có lời khai rõ ràng, việc vắng mặt họ tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 293 của BLTTHS năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: Quá trình điều tra bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật, không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh và điều luật áp dụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo H đã thừa nhận do bản thân mắc nghiện chất ma túy nên đã nhờ một người thanh niên lạ mặt mua hộ 500.000đ ma túy "đá” mang về phòng trọ thuê của gia đình ông Đỗ Chí T3, sinh năm 1957 ở thôn Y, xã D, huyện K để sử dụng dần, H lấy một phần ma túy đã mua ra sử dụng, phần còn lại H cất trong cốc thủy tinh màu trắng đặt ở phòng trọ. Đến khoảng 17 giờ 00 phút ngày 29/11/2022, khi Công an xã D kiểm tra hành chính khu nhà trọ của ông T3, H đã tự giác giao nộp túi nilon chứa ma túy trong cốc thủy tinh cho Cơ quan Công an. Công an xã D đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định để gửi đi giám định. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản đóng, mở niêm phong; Lời khai của những người làm chứng là ông Đỗ Văn T1 và ông Dương Văn K1; Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên, phù hợp với vật chứng thu giữ được và tất cả các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 29/11/2022, tại phòng trọ của Phạm Thị Thu H thuê tại gia đình ông Đỗ Chí T3 sinh năm 1957 ở thôn Y, xã D, huyện K, Phạm Thị Thu H đã có Hnh vi tàng trữ trái phép 0,480 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố H theo tội danh và điều luật áp dụng trong Cáo trạng số 35/CT-VKSKC, ngày 03/3/2023 là có căn cứ.
[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo H gây nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ: Bị cáo đã vi phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý được Bộ luật hình sự bảo vệ. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân và là một trong những nguyên nhân phát sinh ra nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an. Bản thân bị cáo H nhận thức rất rõ tác hại của ma tuý, biết được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã sẵn sàng vi phạm pháp luật, thể hiện sự coi thường kỷ cương, pháp luật của Nhà nước. Bản thân bị cáo là một minh chứng rõ nét cho những điều phân tích nêu trên. Hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm khắc trước pháp luật.
[4]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
.Về nhân thân: Tại bản án số 46/2015/HSST, ngày 26/6/2015 bị Tòa án nhân dân huyện G, thành phố H4 xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 07/3/2017.
.Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H từng bị đưa ra xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng đối chiếu với quy định của BLHS năm 2015 thì đã thuộc trường hợp được xóa án tích nên không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
.Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.
Từ những nhận định, phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người khó cải tạo, đã từng bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với mức hình phạt 30 tháng tù, nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt nêu trên bị cáo đã không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Do vậy, lần phạm tội này cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật và cũng là đáp ứng nhu cầu phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và việc bị cáo Tàng trữ trái phép chất ma túy cũng để phục vụ cơn nghiện của mình chứ không có mục đích tư lợi nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng khoản 5 Điều 249 của BLHS năm 2015 để phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về vật chứng trong vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS năm 2015 để xử lý vật chứng như sau: Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật chứng trong vụ án được nH nước độc quyền quản lý, cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy 0,461 gam Methamphetamine sau giám định.
[7]. Về án phí: Buộc bị cáo H phải chịu án phí HSST là 200.000đ theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 2 Điều 136 của BLTTHS 2015.
[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ: Điểm c choản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị Thu H 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 29/11/2022.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS năm 2015. Tịch thu cho tiêu hủy hủy 0,461 gam Methamphetamine sau giám định. (Tình trạng vật chứng như trong quyết định chuyển vật chứng số 25/QĐ-VKS - KC ngày 03/3/2022 của VKSND huyện Khoái Châu).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Thị Thu H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS năm 2015. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/3/2023).
CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thị Thu H1