- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hạ Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2023/HSST Ngày: 30/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hiến Công Hanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Quang Mỹ và ông La Đức Cường
- Thư ký phiên tòa: Bà Mạc Thị Hà, Thư ký Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Vương Đức Chính - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại Chợ Trung tâm xã B Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hạ Văn L (tên gọi khác: Không). Sinh ngày: 01/01/1986 tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã P, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hạ Văn M và bà Triệu Thị Đ; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 13/02/2023 đến ngày 22/02/2023 thì được hủy bỏ và chuyển sang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/02/2023 đến nay (có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lý Văn Tr - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ma Văn Th, sinh năm 1978. Trú tại Thôn B, xã P, huyện C, tỉnh Bắc Kạn (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 15 phút ngày 13/02/2023, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện C và Công an xã P đang làm nhiệm vụ tại thôn N, xã P, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì phát hiện bắt quả tang Hạ Văn L đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm:
L tự nguyện xuất trình từ túi áo khoác đằng trước bên trái L đang mặc 01 (một) gói màu trắng bên trong có 01 (một) gói giấy màu bạc, mở ra bên trong có chứa cục và bột màu trắng. Tiến hành trích mẫu dạng cục và bột trên cho vào thuốc thử phát hiện nhanh các chất ma túy (thuốc thử Heroine) do Bộ công an sản xuất, kết quả thuốc thử chuyển sang màu tím phản ứng dương tính với ma túy, loại Heroine. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu L1 và 01 (một) gói giấy một mặt màu trắng, một mặt có nhiều màu sắc mở ra bên trong có chứa cục và bột màu trắng từ túi quần đằng trước bên phải L đang mặc. Tiến hành trích mẫu dạng cục và bột trên cho vào thuốc thử phát hiện nhanh các chất ma túy (thuốc thử Heroine) do Bộ công an sản xuất, kết quả thuốc thử chuyển sang màu tím phản ứng dương tính với ma túy, loại Heroine. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu L2.
Tạm giữ tại túi quần đằng trước bên trái L đang mặc 01 (một) xi lanh loại 03ml/cc và 01 (một) xe mô tô Honda Wave α màu sơn đỏ, biển kiểm soát 97F5- 6070.
Tại biên bản mở niêm phong và cân xác định khối lượng của Cơ quan CSĐT Công an huyện C lập hồi 00 giờ 10 phút, ngày 14 tháng 02 năm 2023 xác định: Cân riêng toàn bộ cục và bột màu trắng có trong phong bì ký hiệu L1 có khối lượng là 1,03g (một phẩy không ba gam) niêm phong trong phong bì mới L3; Cân riêng toàn bộ cục và bột màu trắng có trong phong bì ký hiệu L2 có khối lượng là 0,05g (không phẩy không năm gam) niêm phong trong phong bì mới L4 để gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn giám định. Còn vỏ phong bì, giấy gói ban đầu được cho vào trong phong bì mới niêm phong ký hiệu L5.
Tại Kết luận giám định số: 67/KL-KTHS ngày 20 tháng 02 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn Kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột bên trong phong bì ký hiệu L3 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 1,03g (một phẩy không ba gam). Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột bên trong phong bì ký hiệu L3 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,05g (không phẩy không năm gam).
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa Hạ Văn L khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 13/02/2023 L lên cơn nghiện ma túy nên đã mượn xe mô tô BKS 97F5- 6070 của anh rể là Ma Văn Th để đi từ nhà xuống ngã ba Trung tâm y tế huyện C thuộc Tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây L gặp một người đàn ông lạ mặt (không biết tên, tuổi, địa chỉ), nhìn giống người nghiện ma túy nên L đã hỏi mua ma túy với số tiền 1.700.000đ (một triệu bảy trăm nghìn đồng) thì được người đàn ông trên đồng ý bán. L đưa tiền, rồi người đàn ông trên đưa cho L một gói giấy màu trắng bên trong có một gói giấy màu bạc, bên trong có chứa chất ma túy loại Heroine dạng cục và bột màu trắng. Sau đó, L ngồi lại một mình nhặt vỏ bao thuốc lá ở cạnh đường rồi lấy gói ma túy vừa mua được chia ra hai phần nhỏ để sử dụng, chia xong L đút vào túi áo khoắc đằng trước bên trái rồi điều khiển xe đi lên đỉnh dốc N thuộc Tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn lấy kim tiêm mang từ nhà đi và một phần ma túy vừa chia ra để sử dụng bằng hình thức tiêm chính, sử dụng xong số ma túy còn thừa L đút vào túi quần đằng trước bên phải, xi lanh đút vào túi quần bên trái rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn N, xã P, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì L bị Cơ quan Công an bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy.
Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKSCĐ ngày 22/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Hạ Văn L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Hạ Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Hạ Văn L từ 18 đến 24 tháng tù.
Phạt bổ sung: Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, các bao bì niêm phong và 01 chiếc xi lanh nhựa loại 03ml/cc đã qua sử dụng;
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE α, màu đen, BKS 97F5-6070 và một đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên chủ xe là Lâm Thanh Q. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là thuộc sở hữu hợp pháp của anh Ma Văn Th. Ngày 13/02/2023, khi L hỏi mượn xe máy đi thì anh Th không biết L sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy. Chiếc xe hiện đang tạm giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện C. Tại phiên tòa anh Ma Văn Th có ý kiến xin lại chiếc xe mô tô trên nên đề nghị trả lại chiếc xe máy cho anh Th sở hữu.
- Án phí: Áp dụng Điều 135 Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn nộp án phí vì vậy được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Người bào chữa cho bị cáo trình bày bản luận cứ bào chữa, đề nghị: Nhất trí về tội danh cáo trạng truy tố và điều luật áp dụng đề nghị tại phiên tòa của Viện kiểm sát. Xét hoàn cảnh bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức về pháp luật còn hạn chế, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo mức án từ 15 đến 18 tháng tù là phù hợp. Về hình phạt bổ sung và án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí đề nghị HĐXX miễn phạt bổ sung và miễn nộp án phí cho bị cáo theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và các vấn đề khác như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nói lời sau cùng không có ý kiến tranh luận đề nghị gì. Không ai có ý kiến tranh luận đề nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 20 giờ ngày 13/02/2023 L lên cơn nghiện ma túy nên đã mượn xe mô tô BKS 97F5- 6070 của anh rể là Ma Văn Th để đi từ nhà xuống ngã ba Trung tâm y tế huyện C thuộc Tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây L gặp một người đàn ông lạ mặt (không biết tên, tuổi, địa chỉ), nhìn giống người nghiện ma túy nên L đã hỏi mua ma túy với số tiền 1.700.000đ (một triệu bảy trăm nghìn đồng) thì được người đàn ông trên đồng ý bán. Sau khi mua được ma túy, L sử dụng một phần bằng hình thức tiêm chính, sử dụng xong số ma túy còn thừa L đút vào túi quần đằng trước bên phải, xi lanh đút vào túi quần bên trái rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn N, xã P, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì L bị Cơ quan Công an bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy.
Kết quả tranh tụng tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Khi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng là vi phạm pháp luật. Hành vi tàng trữ 1,08g (một phẩy không tám gam) ma túy, loại Heroin của bị cáo cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 29/CT-VKSCĐ ngày 22/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo thực hiện: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân nên cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, ngoài ra bị cáo có bố đẻ là Hạ Văn M được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, mức hình phạt tù đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa đề nghị đối với bị cáo đều nằm trong khung hình phạt quy định của điều luật truy tố nên được chấp nhận.
Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa có căn cứ xác định: Bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng và thu nhập ổn định vì vậy miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, các bao bì liên quan đến việc niêm phong ma túy và 01 (một) chiếc xi lanh nhựa đã qua sử dụng.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE α, màu sơn đỏ-đen, BKS 97F5- 6070 và 01 (một) đăng ký xe mô tô xe máy số 0011712, tên chủ xe Lâm Thanh Q do Phòng Cảnh sát Giao thông Công an tỉnh Bắc Kạn cấp 28/3/2007. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là thuộc sở hữu hợp pháp của anh Ma Văn Th. Ngày 13/02/2023, khi L mượn xe máy đi thì anh Th không biết L sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy. Tại phiên tòa anh Ma Văn Th có ý kiến xin lại chiếc xe mô tô trên nên cần trả lại chiếc xe máy cho anh Th sở hữu như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
. Đối với người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) theo lời khai của bị cáo Hạ Văn L khai là người đã bán ma túy Heroine cho L tại ngã ba gần cổng Trung tâm y tế huyện C thuộc Tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Kết thúc điều tra L không cung cấp được danh tính, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với Ma Văn Th (là người cho bị cáo mượn xe mô tô). Qua điều tra xác định được việc L mượn xe sau đó sử dụng xe vào việc đi mua ma túy và tàng trữ ma túy anh Th đều không biết nên không có căn cứ để xử lý.
. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn nộp án phí vì vậy được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên bố bị cáo Hạ Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hạ Văn L 18 (mười tám) tháng tù, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 13/02/2023 đến ngày 22/02/2023, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù của bản án.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì ký hiệu L5. Phong bì được niêm phong dán kín, trên mặt niêm phong có 04 (bốn) chữ ký không đọc được và hai dòng chữ “Lộc“, hai dòng chữ “Ma Văn Ph“ (bên trong có một gói giấy màu trắng, một gói giấy màu bạc, một gói giấy một mặt màu trắng, một mặt có nhiều màu sắc, cùng hai phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu L1, L2).
+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì ký hiệu T41. Phong bì được niêm phong dán kín, trên mặt niêm phong có đóng 02 (hai) dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn và 03 (ba) chữ ký không đọc được (bên trong có 0,99 gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định và phong bì, bao gói cũ).
+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) xi lanh loại 03 ml/cc được niêm phong trong phong bì ký hiệu D1.
- Trả lại cho anh Ma Văn Th (địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện C, tỉnh Bắc Kạn) 01 (một) xe mô tô BKS 97F5- 6070, nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn đỏ, đen, số máy HC09E5247386, số khung 09087Y147353, xe đã qua sử dụng và 01 (một) đăng ký xe mô tô, xe máy số 0011712, tên chủ xe Lâm Thanh Q, địa chỉ thôn N, xã L, huyện C, Bắc Kạn, biển số đăng ký 97F5-6070 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Kạn cấp ngày 28/3/2007.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện C; - CA huyện C; - THADS huyện C; - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND tỉnh Bắc Kạn ; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn; - Người có QL,NVLQ ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án . | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa (đã ký) Hiến Công Hanh |