- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Nguyễn Văn N: 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù từ ngày bắt 25/12/2022.
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ Q TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2023/HS-ST Ngày : 03/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ Q
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Phan Hùng
Hội thẩm nhân dân: bà Vũ Thị Thanh, bà Vũ Thị Lâm
- Thư ký phiên toà: bà Mai Thùy Dung - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Phạm Tiến Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2023/TLST-HS ngày 13/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXXST-HS ngày 22/3/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn N.
Tên gọi khác: không. Sinh ngày 16 tháng 5 năm 1964, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: thôn C, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 4/10, nghề nghiệp: lao động tự do. Họ và tên bố: Nguyễn Văn B, họ và tên mẹ: Phạm Thị L. Anh chị em ruột có 08 người, bị cáo là con thứ sáu. Vợ: Dương Thị B1, có một con sinh năm 1988. Tiền án: ngày 04/5/2020, Tòa án nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh xử phạt Nguyễn Văn N 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 15 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt Nguyễn Văn N phải chấp hành chung cho hai tội là 39 (ba chín) tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/7/2022. Tiền sự: không. Nhân thân: ngày 02/02/2005, Toà án nhân dân huyện Yên Hưng (nay là thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh) xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo bị bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 25/12/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh có mặt tại phiên tòa.
-Người làm chứng:
Anh Trần Thành P, sinh năm 1996. Nơi cư trú: thôn C, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh
Anh Thẩm Đức H, sinh năm 1983. Nơi cư trú: khu 6, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
Ông Ngô Văn K, sinh năm 1956. Nơi cư trú: thôn C, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 20 giờ ngày 23/12/2022, Nguyễn Văn N đang ở nhà một mình tại thôn C, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh thì có một đối tượng tên là Chung quen biết ngoài xã hội không rõ lai lịch cụ thể đến nhà Nhắn cho Nhắn 03 túi ma tuý loại Methamphetamine để sử dụng. Sau đó, Nhắn một mình sử dụng 02 gói ma tuý, còn 01 gói ma tuý đựng trong 01 túi ni-lon mầu trắng đầu khoá kẹp, Nhắn cất giấu tại bàn bếp của gia đình. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 25/12/2022, Trần Thành P, sinh năm 1996, trú tại thôn Cửa Tràng, xã T, thị xã Q và Thẩm Đức H, sinh năm 1983, trú tại khu 6, phường Q đến nhà Nhắn chơi ngồi ngoài phòng khách. Một luc sau, Công an thị xã Q đến nhà Nhắn để kiểm tra hành chính, Nhắn thấy vậy đã chạy vào bếp vứt bộ dụng cụ sử dụng ma tuý ra sân; Cơ quan Công an đã tiến hành thu giữ tại mặt bàn trong bếp 01 túi ni-lon mầu trắng được hàn kín 03 đầu, 01 đầu khoá kẹp, bên trong có chất tinh thể mầu trắng kí hiệu (M1), 02 túi nilon mầu trắng bên trong chứa chất bột mầu trắng kí hiệu (M2 và M3), 01 ống nhựa mầu xanh dài 7 cm một đầu được vát nhọn bên trong có bám dính chất bột mầu trắng kí hiệu (M4); thu giữ tại sân nhà Nhắn 01 mảnh vỡ của bầu lỏ thuỷ tinh, trên một mảnh vỡ dính bám dính chất bột mầu trắng kí hiệu (M5); 01 bật lửa mầu trắng; thu giữ nước tiểu của Trần Thành P và Thẩm Đức H.
Bản Kết luận giám định số 04/KL-KTHS(MT) ngày 01/01/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu kí hiệu (M1) là ma tuý loại Methamphetamine, có khối lượng 0,224 gam; kí hiệu (M2, M3, M4 và M5) đều là ma tuý loại Methamphetamine, dạng vết không xác định được khối lượng.
Trong nước tiểu của Trần Thành P và Thẩm Đức H đều tìm thấy chất ma tuý loại Methamphetamine.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Văn N khai nhận: Số ma tuý Chung cho Nhắn, Nhắn sử dụng một mình, số ma tuý còn lại để sử dụng; Phát và Huy khai nhận: trước đó vào ngày 23/12/2022, Phát đã sử dụng ma tuý một mình tại một quán bia (không rõ địa chỉ) tại thành phố Hà Nội; ngày 24/12/2022, Huy sử dụng ma tuý một mình tại khu 6, phường Q, thị xã Q. Đến ngày 25/12/2022, Phát và Huy đến nhà Nhắn chơi và ngồi tại phòng khách, khi thấy Cơ quan Công an kiểm tra nhà Nhắn, Nhắn đã đứng dậy chạy vào bếp; quá trình điều tra Cơ quan Công an đã thu giữ ma tuý tại mặt bàn bếp của gia đình Nhắn và dụng cụ sử dụng ma tuý; Phát và Huy không biết Nhắn tàng trữ ma tuý và không sử dụng ma tuý cùng Nhắn.
Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định niêm phong trong phong bì số 04/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số: 29/CT-VKSQY ngày 08/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q giữ quan điểm truy tố bị cáo theo nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn N từ: 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù từ ngày 25/12/2022.
Về vật chứng: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy hoàn lại sau giám định trong phong bì số 04/KL-KTHS ngày 01/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo thừa nhận việc truy tố và xét xử là đúng người, đúng tội; đúng pháp luật. Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
* Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó: các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận: ngày 25/12/2022 bị cáo đã tàng trữ 01 túi ma túy loại Methamphetamine, trọng lượng 0,224 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Người làm chứng anh Trần Thành P, anh Thẩm Đức H khai: khoảng 12 giờ 30 phút ngày 25/12/2022, anh Phát, anh Huy đang ngồi chơi tại nhà Nguyễn Văn N thì Công an đến kiểm tra hành chính tại nhà Nhắn. Công an thu giữ một túi ni-lon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể nàu trắng ở trên mặt bàn bếp nhà Nhắn.
Như vậy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai người làm chứng trong quá trình điều tra; phù hợp với các chứng cứ khác trong vụ án. Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử thấy đủ cơ sở kết luận: khoảng 13 giờ 50 phút, ngày 25/12/2022, tại nhà của Nguyễn Văn N ở thôn C, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 0,224 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt giữ, thu giữ vật chứng.
Hành vi của Nguyễn Văn N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật; tiếp tay cho những kẻ buôn bán ma túy; ảnh hưởng đến sức khỏe, kinh tế và làm gia tăng các loại tội phạm khác. Nhưng do coi thường pháp luật, Nguyễn Văn N đã tàng trữ 0,224 gam ma túy, loại Methamphetamine mục đích để sử dụng. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xử lý trước pháp luật là cần thiết, đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm về ma túy trong tình hình hiện nay.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 04/5/2020, Tòa án nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh xử phạt Nguyễn Văn N 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 15 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt Nguyễn Văn N phải chấp hành chung cho hai tội là 39 (ba chín) tháng tù. Bị cáo có tiền án chưa được xóa án nay lại phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra về nhân thân bị cáo: ngày 02/02/2005, Toà án nhân dân huyện Yên Hưng (nay là thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh) xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Hội đồng xét xử thấy: bị cáo không chịu tiếp thu sự giáo dục của pháp luật, chống đối pháp luật nên cần có mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi bị cáo gây nên.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi vi phạm. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo sau trở thành người có ích cho xã hội.
.Về vật chứng trong vụ án: lượng ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 04/KLGĐ-KTHS ngày 01/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
. Vấn đề khác: đối với Trần Thành P, Thẩm Đức H trước đó mua ma tuý của người không quen biết và sử dụng một mình hết nên Công an thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Trần Thành P và Thẩm Đức H.
Đối với đối tượng tên Chung cho Nguyễn Văn N ma túy, Cơ quan điều tra không xác định được con người cụ thể nên không có cơ sở xử lý.
. Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): bị cáo không có thu nhập ; là người nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Nguyễn Văn N: 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù từ ngày bắt 25/12/2022.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 04/KLGĐ-KTHS ngày 01/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/3/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
Căn cứ khoản 1-2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Luật phí và lệ phí.
Bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Văn N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
T M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh; - Viện KSNDTX Q; - Viện KSND tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan CSĐTCATX Q; - Trại tạm giam CAT Quảng Ninh; - Cơ quan THA hình sự; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - Chi cục THADSTX Q; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Hùng |