vanban.org

Bản án 32/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 24/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Tiến D 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 09/4/2023 Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Tiến D 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo Quyết định tạm giam bị cáo tại phiên toà để đảm bảo công tác thi hành… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Tiến D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BA ĐỒN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/HS-ST
Ngày: 24 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tưởng Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Xuân Vinh và ông Mai Văn Chương

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thục Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Trọng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Tiến D, sinh ngày 26 tháng 01 năm 1989 tại huyện L, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị D; có vợ: Phạm Thị Huyền T và 02 con (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ sau đó chuyển tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã B kể từ ngày 09/4/2023 cho đến nay. Theo lệnh trích xuất bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Tạ Thị Hồng C, sinh năm 1962, nơi cư trú: Tổ dân phố M, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 09/4/2023, Trần Tiến D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73K7-1542 đi làm từ tổ dân phố T, phường Q, thị xã B về nhà thì nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên đã điều khiển xe mô tô đi đến khu vực trước cổng chính Bệnh viện Đa khoa khu vực Bắc Quảng Bình. D dừng xe lại rồi đi bộ một đoạn đường thì gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ. D hỏi và mua được từ người đàn ông này 01 gói ma túy được bọc trong gói giấy màu vàng, bên trong chứa 21 viên nén hình tròn, dạng thuốc tân dược với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D cầm trong long bàn tay trái đi lại vị trí xe mô tô mà D đã dựng trước đó để điều khiển xe đi tìm nơi để sử dụng thì bị lực lượng Đồn Biên phòng cửa khẩu Cảng Gianh, Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Bình phối hợp với Công an thị xã B, tỉnh Quảng Bình phát hiện, lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ tang vật liên quan.

Tại bản Kết luận giám định số 351/KL-KTHS ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: Mẫu ký hiệu A (21 viên nén hình tròn, màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY” thu giữ từ Trần Tiến D là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 1,886g;

Tại thời điểm lập biên bản phạm tội quả tang Đồn Biên phòng cửa khẩu Cảng Gianh, Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Bình đã thu giữ:

- 21 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược (là chất ma túy)

- 01 xe mô tô biển kiểm soát 73K7-1542, nhãn hiệu Fusin, sơn màu xanh, số khung 342271, số máy 342271.

Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô nói trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Tạ Thị Hồng Châu nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã B đã trả lại cho bà C.

Tại bản Cáo trạng số 33/CT-VKSBĐ ngày 12 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Trần Tiến D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Tiến D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Tiến D từ 18 đến 21 tháng tù.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư đã được niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình;

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo D phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước

Bị cáo Trần Tiến D nhất trí tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng, bị cáo trình bày là đã biết sai lầm, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã B, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, việc thu giữ các vật chứng của vụ án và các hành vi, quyết định tố tụng khác của Điều tra viên đều được thực hiện đúng pháp luật. Việc truy tố của Viện kiểm sát là đúng thẩm quyền, tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định.

Về hành vi phạm tội:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bản kết luận giám định cũng như nội dụng bản Cáo trạng của Viện kiểm sát cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã xác định được vào khoảng 19 giờ 25 phút, ngày 09/4/2023, Trần Tiến D đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,886g chất ma tuý, loại Methamphetamine, nằm trong danh mục các chất ma tuý, số thứ tự 247, danh mục IIC, nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ, bị pháp luật Việt Nam nghiêm cấm tàng trữ trái phép. Vì vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận: bị cáo Trần Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Bị cáo là một người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hoàn toàn nhận thức được ma tuý là chất bị pháp luật nghiêm cấm tàng trữ trái phép nhưng chỉ vì đua đòi, nghiện ngập và để có ma túy sử dụng, bị cáo đã bất chấp sự nguy hại của ma túy và bất chấp sự nghiêm trị của pháp luật, đã cố tình mua và tàng trữ 1,886g ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện và bắt quả tang. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho bản thân, gia đình và xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma tuý, gây thiệt hại cho lợi ích của xã hội, của công dân và gây ảnh hưởng không tốt đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Trong tình hình tội phạm về ma tuý ngày càng gia tăng và gây nhiều hậu quả xấu đến cuộc sống của người dân, xét thấy cần phải áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự để xử phạt nghiêm đối với bị cáo nhằm đảm bảo răn đe, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật đối với bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt:

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng và được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo với cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có điều kiện sửa chữa, tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành người công dân tốt

Đối với người đã bán ma tuý cho D nhưng do không xác định được danh tính và địa chỉ cụ thể nên chưa có cơ sở để giải quyết. Cơ quan CSĐT Công an thị xã B tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

Về vật chứng vụ án:

Xét thấy: 01 phong bì thư dán kín, số 351/KL-KTHS, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, bên ngoài ghi “mẫu ký hiệu A”, bên trong chứa 1,767g chất ma tuý Methamphetamine sau giám định, kèm theo vỏ bao gói là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu huỷ là phù hợp;

Về án phí: Bị cáo Trần Tiến D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1, 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Tiến D 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 09/4/2023

Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Tiến D 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo Quyết định tạm giam bị cáo tại phiên toà để đảm bảo công tác thi hành án

3. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư đã được niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình; (Vật chứng trên có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã Ba Đồn và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn ngày 12/7/2023);

4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Tiến D phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ