- Tranh chấp gì? án hình sự — "TQT "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Quang T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 32/2023/HS-ST Ngày: 01-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Kim Chung
Bà Vương Thị Minh Tân
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Soan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 3 năm 2024 tại trụ Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS, ngày 02 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Quang T, sinh năm 1964, tại tỉnh Nam Định; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số nhà 9/60 đường T, phường T, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: 036064029134; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Quang L, con bà Trần Thị Q; có vợ: Nguyễn Thị Thanh V (đã chết) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29-8-1988, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Hà Nam Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Ngày 13-7-1990, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Hà Nam Ninh xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Ngày 06-9-1994, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Hà xử phạt 3 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Ngày 11-10-1996, Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xử phạt 3 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp với 07 tháng 25 ngày tù còn lại của bản án năm 1994 buộc Toàn phải chấp hành hình phạt chung là 3 năm 7 tháng 25 ngày tù giam. Bản án số 152 ngày 22-3-2016, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24-11-2017. Đã thi hành xong các khoản nộp án phí theo quy định. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22-12-2023, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 31-12-2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Nam Định. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 22-12-2023, tổ công tác Công an phường Trần Quang Khải, thành phố Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực bãi đất trống ven hồ An Trạch, thuộc phường Cửa Bắc, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định phát hiện Trần Quang T điều khiển xe đạp điện có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, thu giữ trong tay trái của Toàn 02 gói giấy bạc màu vàng, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (Toàn khai là Heroine mua về để sử dụng). Tổ công tác đã niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Quang T. Ngoài ra còn tạm giữ của Toàn 01chiếc xe đạp điện, đã cũ.
Bản kết luận giám định số 102/KL-KTHS ngày 28-12-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 02 gói giấy bạc màu vàng được niêm phong gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroine (Heroin); Tổng khối lượng mẫu: 0,160 gam.
Tại cơ quan điều tra, Trần Quang T khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 22-12-2023, Toàn điều khiển xe đạp điện đến khu vực đường Lương Thế Vinh, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định gặp người đàn ông đang đi xe đạp (không rõ lai lịch) mua 02 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Toàn cầm 02 gói Heroine trong tay trái rồi điều khiển xe đạp điện đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Cáo trạng số 30/CT-VKSTPNĐ ngày 01-02-2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định đã truy tố bị cáo Trần Quang T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Trần Quang T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Trần Quang T từ 18 đến 21 tháng tù giam; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong 01 phong bì niêm phong số 102/KL-KTHS. Trả lại cho bị cáo Trần Quang T 01 xe đạp điện đã cũ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo Trần Quang T nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Nam Định, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Quang T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Quang T trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 22-12-2023; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 22-12-2023; bản kết luận giám định số 102/KL-KTHS ngày 28-12-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 22-12-2023, tại khu vực bãi đất trống ven hồ An Trạch, phường Cửa Bắc, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, Trần Quang T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,160 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo Trần Quang T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,160 gam nên bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Quang T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã có thời gian phục vụ trong quân đội nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Quang T là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Nam Định. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng nhiều lần bị kết án mặc dù đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Trần Quang T không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ của bị cáo Trần Quang T là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Chiếc xe đạp điện màu xanh đã cũ là tài sản của bị cáo cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí hình sự sơ thẩm.
Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với đối tượng bán ma túy cho Trần Quang T, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định pháp luật.
Về án phí:
Bị cáo Trần Quang T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Trần Quang T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Quang T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22-12-2023.
2. Xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiên hủy số ma túy đã thu giữ có trong phong bì niêm phong số 102/GĐKTHS.
Trả lại cho bị cáo Trần Quang T 01 (một) chiếc xe đạp điện màu xanh có số khung 116122014095871 (đã cũ) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 115/YCN/2024, ngày 06-02-2024)
3. Án phí:
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Trần Quang T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo Trần Quang T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh Nam Định; - VKSND TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ./. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Trường |