- Tranh chấp gì? án hình sự — "Kiều Công Minh N – sinh năm: 2001 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Bị cáo Kiều Công Minh N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2023/HS-ST Ngày: 25/5/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tăng Tài Thủ
2. Ông Nguyễn Viết Ngoan
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Hồng Quốc Vệ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2023/HSST ngày 28 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/HSST ngày 15 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ đối với bị cáo:
Kiều Công Minh N – sinh năm: 2001
ĐKTT: Ấp V, thị trấn V, huyện V, thành phố Cần Thơ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha Kiều Công C – sinh năm: 1967 (sống); Họ tên mẹ: Thạch Thị Mộng T – sinh năm: 1973 (sống); Chị em ruột: có 01 người; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/02/2023 cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người làm chứng: Ông Bùi Thanh K – sinh năm: 1996 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Q, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Kiều Công Minh N là đối tượng nghiện ma túy. Theo bị cáo N khai vào khoảng 14 giờ ngày 03/02/2023, N đang ở nhà tại Ấp V, thị trấn V, huyện V, thành phố Cần Thơ thì người bạn tên C1 (không rõ nhân thân) điều khiển xe môtô wave màu đỏ đến rủ N đi uống cà phê, N đồng ý và N nhờ C1 điện thoại mua ma túy dùm N, C1 đồng ý. Sau đó, N điều khiển xe mô tô của C1 chở C1 đến Ngã ba lộ tẻ thuộc phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, C1 điện thoại hỏi mua ma túy. Sau khi điện thoại xong, C1 chở N đến quán cà phê trong khu dân cư L. Tại đây, C1 điện thoại rủ thêm Bùi Thanh K (S) đến uống cà phê. Trong lúc uống cà phê, C1 nhờ K chở N về dùm, C1 về trước. Lúc này, N nói K chở N đến khu đất trống gần bụi sậy để N đi vệ sinh nhưng thực tế N đến gặp người thanh niên (không rõ nhân thân) để lấy gói ma túy đã nhờ C1 mua dùm với giá 1.000.000đồng, N cầm gói ma túy trên tay trái và đi ra nơi K đợi và K chở N về. Khi đến gần cầu Z thuộc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang cùng tang vật:
- 01 (một) gói nilon nẹp miệng bên trong có chứa chất tinh thể rắn không màu; Kết luận giám định số 45/KL-KTHS ngày 10/02/2023 của Phòng K1, Công an thành phố C, kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon gửi gmas định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,4775 gam;
- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Masstel màu đen, loại bàn phím.
Tại cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 27/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Kiều Công Minh N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, bị cáo cũng không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm; đồng thời phát biểu ý kiến, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bị cáo Kiều Công Minh N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Kiều Công Minh N1 từ 02 năm đến 03 năm tù.
+ Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy gói niêm phong số: 45/KL-KTHS ngày 10/02/2023 của phòng K1 Công an thành phố C có chứa ma túy còn lại sau giám định;
+ Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu đen, loại bàn phím do không liên quan đến việc phạm tội.
Bị cáo không phát biểu tranh luận, chỉ nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo, bị cáo ăn năn hối cải, hứa làm lại cuộc đời chăm sóc cho cha mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ như các biên bản về hoạt động điều tra, các biên bản ghi lời khai, biên bản khám xét và kết luận giám định.
[2] Về căn cứ buộc tội: bị cáo Kiều Công Minh N1 là đối tượng nghiện ma túy, vào ngày 03/02/2023 N1 nhờ người bạn tên C1 gọi điện hỏi mua dùm N1 1.000.000đồng ma túy để sử dụng và bị Cơ quan chức năng khám xét bắt quả tang thu giữ gói ma túy bị cáo cất giấu trong người cùng một số tang vật. Tại Kết luận giám định số 45/KL-KTHS ngày 10/02/2023 của Phòng K1 Công an thành phố C kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định, là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 1,4775gam. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, việc đưa ra truy tố và xét xử bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, có sức khoẻ nhưng không chịu khó phấn đấu sống lành mạnh và có ích, lại tiêm nhiểm thói hư tật xấu, sa đà vào nghiện ngập. Bản thân bị cáo hoàn toàn nhận thức được tác hại của chất ma túy và biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng bị cáo xem thường pháp luật thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng. Hành vi mà bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy; xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Ngoài ra, ma tuý còn là hiểm hoạ, là nguyên nhân gây ra sự suy thoái về đạo đức, lối sống; ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, sức khỏe, sự phát triển nòi giống của dân tộc và đời sống văn hóa lành mạnh của nhân dân; đồng thời cũng là nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội khác. Do đó, cần thiết phải xử lý nghiêm để đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật cũng như đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt.
[6] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Đối với người tên C1 và người thanh niên bán ma túy, do bị cáo N1 không biết rõ họ, tên và địa chỉ cụ thể nên chưa tiến hành làm việc được. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.
Riêng Bùi Thanh K do không biết việc bị cáo N1 mua ma túy và cất giấu ma túy trên người nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận T không xem xét xử lý là phù hợp.
[9] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
[10] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên xử: Bị cáo Kiều Công Minh N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Kiều Công Minh N1 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 03/02/2023.
Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy gói niêm phong số: 45/KL-KTHS ngày 10/02/2023 của phòng K1 Công an thành phố C có chứa ma túy còn lại sau giám định;
+ Trả lại cho bị cáo 01 (Một) điện thoại di động hiệu Masstel màu đen, loại bàn phím.
(Vật chứng tạm giữ hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự quận T theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T với Chi cục thi hành án dân sự quận Thốt Nốt).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội .
Bị cáo Kiều Công Minh N1 phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Tp. Cần Thơ; - Sở Tư pháp Tp. Cần Thơ; - VKSND quận Thốt Nốt; - Cơ quan CSĐT CA quận Thốt Nốt; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Nhà tạm giữ CA quận Thốt Nốt; - Chi cục THADS quận Thốt Nốt; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Ngọc Hạnh |