vanban.org

Bản án 32/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng Tuyên án 25/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, T:

Tịch thu tiêu hủy: 01(một) phong bì thư dán kín trong có vỏ bao bì, toàn bộ mẫu giám định còn lại sau giám định, có dấu niêm phong số 474MT/PC09 của Phòng Kĩ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng còn lại sau giám định; Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 100.000 (Một trăm nghìn đồng) để sung quỹ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức T - MBTP Ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, T:
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/HS-ST
Ngày 25-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Quỳnh Như.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Hải;

Ông Bùi Văn Khương.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lê T1 Tùng- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức T, sinh ngày 29 tháng 3 năm 1984 ta ̣i Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 22/433 Hùng V, phường Hùng V, quận Hồng B, thành phố Hải Phòng; nghề nghiê ̣p: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị H; có vợ là Phạm Thị L và 02 con, lớn nhất sinh năm 2011; nhỏ nhất sinh năm 2013; nhân thân, tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/9/2022, chuyển tạm giam từ ngày 23/9/2022. Có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Bùi Mạnh Hùng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ ngày 19/9/2022 Nguyễn Đức T nhận được điện thoại của một người bạn tên T1 (hiện chưa xác định được lai lịch) nhờ mua ma túy, do cần tiền chi tiêu cá nhân nên T đồng ý. Sau đó T điều khiển xe mô tô BKS 14B1-117.12 tới khu vực bến xe Thượng Lý gặp và nhận của T1 700.000 đồng (Trong đó gồm 600.000 đồng tiền mua 03 gói ma túy Heroine, còn 100.000 đồng là tiền công của T). T cầm tiền và liên hệ với H (hiện chưa xác định được lai lịch) để mua ma túy, cả hai hẹn giao dịch tại khu vực ngã tư Metro. Khi tới nơi T đưa cho Hằng 600.000 đồng và nhận lại 03 gói ma túy bên trong chứa Heroine. T cất số ma túy vào túi quần phía trước bên phải sau đó điều khiển xe mô tô về khu vực bến xe Thượng Lý để giao ma túy cho T1. Khi đi tới khu vực trước cửa nhà số 29/123 Hùng Vương thì bị lực lượng Công an quận Hồng Bàng kiểm tra đưa về trụ sở Công an phường Sở Dầu lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ: 03 gói giấy màu trắng chứa ma túy, số tiền 150.000 đồng, xe mô tô BKS 14B1-117.12.

Tại bản Kết lận giám định số 474 ngày 21/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận “Chất bột màu trắng của mẫu gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,59gam, loại: Heroine.

Vật chứng: Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng vật chứng là ma túy còn lại sau giám định và số tiền 150.000 đồng

Tại Cáo trạng số 33/CT-VKSHB, ngày 15-3-2023, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo nhận tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Đức T từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/9/2022. Miễn phạt tiền bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định.

+ Trả lại bị cáo số tiền 50.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

+ Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 100.000 (Một trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không có quan điểm tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát, phần lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, người chứng kiến vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Xét người chứng kiến đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến.

- Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” như nội dung đã nêu trên. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản khám xét khẩn cấp, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 14 giờ ngày 19/9/2022 Nguyễn Đức T đã có hành vi mua bán trái phép 0,59 gam Heroine thì bị bắt quả tang tại khu vực trước cửa nhà số 29/123 Hùng Vương, phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng. Hành vi trên của Nguyễn Đức T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T đã có hành mua bán trái phép ma túy là Heroine. Số ma túy Cơ quan công an thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,59 gam. Do đó, hành vi của bị cáo bị xét xử theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm Luật Phòng, chống ma túy, mà còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác gây mất trật tự an toàn xã hội. Đây là tệ nạn xã hội gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân nên phải xem xét, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

- Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Về nhân thân: Nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mục đích của hình phạt, nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội. Xét thấy, cần xử phạt bị cáo mức án trên khởi điểm của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng mới có tác dụng giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo có công việc thu nhập không ổn định, không có căn cứ xác định bị cáo có tài sản riêng. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Viện Kiểm sát là có cơ sở.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán trong có vỏ bao bì còn lại sau giám định do liên quan đến hành vi phạm tội.

Đối với số tiền 150.000 đồng cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo, xét: Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 100.000 đồng vào Ngân sách nhà nước là tiền thu lợi bất chính trong việc mua bán trái phép ma túy và trả lại cho bị cáo số tiền 50.000 đồng là tiền riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về những nội dung khác có liên quan đến vụ án:

Đối với chiếc xe mô tô BKS 14B1 -117.12 quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là có căn cứ.

Đối với đối tượng bán ma túy cho T và đối tượng tên T1 nhờ T mua ma túy hiện chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau là có căn cứ.

Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Đức T: 30 (Ba mươi tháng) tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/9/2022.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, T:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01(một) phong bì thư dán kín trong có vỏ bao bì, toàn bộ mẫu giám định còn lại sau giám định, có dấu niêm phong số 474MT/PC09 của Phòng Kĩ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng còn lại sau giám định;

+ Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 100.000 (Một trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

+ Trả lại bị cáo số tiền 50.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận giữa Công an quận Hồng Bàng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng ngày 16-3-2023 tại Chi cục Thi hà nh á n dân sự quận Hồng Bà ng và Biên lai thu tiền ký hiệu AA/2021 số 0006016 ngày 16/3/2023 của Chi cục Thi hà nh á n dân sự quận Hồng Bà ng).

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày T án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ