vanban.org

Bản án 32/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 12/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Thào Láo S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Thào Láo S 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Thào Láo S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Thào Láo S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Y
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/HS-ST
Ngày 12 - 05 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Đức Vinh.

Ông Hoàng Anh Văn.

- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Lâm Tới - Thư ký Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Phương Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 05 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 04 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2023/HSST-QĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Thào Láo S (tên gọi khác: Không), sinh ngày 03 tháng 3 năm 1957, tại: huyện Y, tỉnh Sơn La.

Nơi cư trú: bản P, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): 03/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thào Lao Màng (đã chết) và bà Mùa Thị Văng (đã chết); bị cáo có vợ và 07 con, con lớn nhất sinh năm 1978, con nhỏ nhất sinh năm 1999.

Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/02/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 14 giờ 00 ngày 22/02/2023 tại bản P, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an huyện Y phát hiện và bắt quả tang đối với Thào Láo S sinh năm 1957, trú tại: bản P, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm phát hiện và thu giữ 01 gói nilon màu xanh chứa 1/2 ( một nửa) viên nén màu hồng nghi là Methamphetamin và 01 cục bột màu trắng nghi là Heroine, do Thào Láo S tự giác lấy trong túi quần trái đang mặc trên người giao nộp. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.

Ngày 22/02/2023 Cơ quan CSĐT huyện Y phối hợp với phòng PC09 Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng và trích mẫu gửi giám định đối với số ma túy thu giữ của Thào Láo S, kết quả: 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 1/2 viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng là 0,05g trích toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu S1, và chất cục bột màu trắng có khối lượng là 0,12g trích 0,02 g ký hiệu là S2 gửi giám định chất ma túy. Còn lại 0,1g nhập kho vật chứng ký hiệu S.

Tại kết luận giám định số 459/KLMT ngày 24/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu S1 là ma túy; Loại Methamphetamine ; Khối lượng của mẫu gửi giám định S1 là: 0,05 gam. Mẫu gửi giám định S2 là ma túy loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là S2 = 0,02g. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,05g loại Methamphetamin; 0,12g loại loại Heroine”.

Quá trình điều tra Thào Láo S khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 22/2/2023, Sanh mang theo 30.000đ (Ba mươi nghìn đồng) đi bộ một mình từ nhà đến khu vực biên giới Việt Lào giáp ranh giữa bản P, xã C, huyện Y với bản Huổi Ngậm, nước CHDCND Lào để tìm mua ma túy về sử dụng. Trên đường đi Thào Láo S gặp một người phụ nữ dân tộc Mông, quốc tịch Lào (không biết họ tên và địa chỉ), qua nói chuyện được biết người phụ nữ có bán ma túy nên hỏi mua và được người phụ nữ bán cho 01 túi nilon màu xanh, bên trong chứa 1/2 (một nửa) viên hồng phiến và một ít Heroine với giá 30.000đ (Ba mươi nghìn đồng). Sau khi mua ma túy, Sanh cất giấu gói ma túy vào trong túi quần phía trước bên trái, rồi đi bộ một mình trở về nhà. Đến khoảng 14h cùng ngày, khi Sanh đi đến cột mốc 246 thuộc địa phận bản P, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Công an huyện Y bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Do có hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKSYC ngày 28/03/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Y để xét xử bị cáo Thào Láo S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa bị cáo Sanh thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như bản Cáo trạng truy tố, thống nhất với lời khai nhận trong quá trình điều tra, truy tố.

Tại phiên toà Kiểm sát viên thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Thào Láo S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, x khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo từ 16 tháng đến 22 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong mặt trước ghi vật chứng vụ Thào Láo S tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 22 tháng 02 năm 2023 tại bản P, xã C, huyện Y, bên trong gồm có 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu + 01 mảnh nilon màu xanh + 01 mẫu S + 0,1g Heroin. Mặt sau phong bì có số hiệu: 070314.

Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Tại phiên tòa khi được nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.

Về tình tiết định tội định khung hình phạt:

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 22/02/2023, biên bản niêm phong vật chứng ngày 22/02/2023, biên bản mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 22/02/2023, Kết luận giám định số 459/KL-KTHS ngày 24/02/2023, các biên bản ghi lời khai nhận của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội, biên bản lấy lời khai của người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 22/02/2023, bị cáo Thào Láo S có hành vi mua ma túy và cất giấu trong túi quần với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện và bắt giữ, thu giữ 0,05g Methamphetamin và 0,12g Heroine, tổng khối lượng ma tuý bị thu giữ là 0,17g. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức phạt tù từ 01 đến 05 năm.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố và Tòa án nhân dân huyện Y xét xử bị cáo Thào Láo S là chính xác, đúng người, đúng tội, đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, không oan sai cho bị cáo. Tại thời điểm thực hiện hành vi của mình bị cáo đã có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng sức khỏe con người, suy kiệt nòi giống, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác như trộm cắp, cướp của, giết người.. Nên cần xử lý nghiêm bị cáo bằng hình phạt để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Trong vụ án này, bị cáo là công dân có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma túy và việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Song để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho nhu cầu nghiện hút ma túy của mình.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, không có tiền án tiền sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Năm 1996 Thào Láo S được nhà nước trao tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng III do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết pháp luật. Có nơi cư trú ổn định, khi bị phát hiện hành vi phạm tội đã tự giác giao nộp ma túy cho tổ công tác Công an huyện Y. Khối lượng ma túy tàng trữ không lớn, có 02 tình tiết giảm nhẹ do vậy cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, của bị cáo, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để có mức án phù hợp, tương xứng, nhằm nghiêm khắc trừng phạt, cải tạo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, đồng thời răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy tại địa phương đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa đã làm rõ bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị lớn, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với số vật chứng liên quan bao gồm: 01 phong bì thư niêm phong mặt trước ghi vật chứng vụ Thào Láo S tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 22 tháng 02 năm 2023 tại bản P, xã C, huyện Y, bên trong gồm có 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu + 01 mảnh nilon màu xanh + 01 mẫu S + 0,1g Heroin. Mặt sau phong bì có số hiệu: 070314, xét thấy đây là những vật cấm tàng trữ và không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người phụ nữ dân tộc Mông quốc tịch Lào, bị cáo khai nhận bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, nơi trao đổi mua bán ma túy diễn ra tại khu vực biên giới Việt Lào nên cơ quan CSĐT Công an huyện Y không có căn cứ để điều tra, xác minh và xử lý.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Thời hạn tạm giam còn lại của bị cáo dưới 45 ngày, cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 BLTTHS 2015.

Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị của Kiểm sát viên, đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s, x khoản 1 Điều 51 BLHS 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Thào Láo S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Thào Láo S 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng liên quan bao gồm: 01 phong bì thư niêm phong mặt trước ghi vật chứng vụ Thào Láo S tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 22 tháng 02 năm 2023 tại bản P, xã C, huyện Y, bên trong gồm có 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu + 01 mảnh nilon màu xanh + 01 mẫu S + 0,1g Heroin. Mặt sau phong bì có số hiệu: 070314

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 28/BB-CCTHADS ngày 24/03/2023 giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thào Láo S.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 12/5/2023 theo quy định của pháp luật ./.

Cỡ chữ