vanban.org

Bản án 32/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 13/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng Anh K phạm tội “Đánh bạc”;

Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng Anh K: 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/6/2023. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long, cùng gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian chịu thử… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng Anh K phạm tội “Đánh bạc”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨNG LIÊM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/HS-ST
Ngày: 13-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Quốc Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Sơn Thanh Huyền

Ông Nguyễn Văn Cơ Ba

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc – Thư ký TAND huyện Vũng Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2023/TLST-HS, ngày 26 tháng 4 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Lê Hoàng Anh K, sinh năm 1981; giới tính: Nam; nơi cư trú: ấp N, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: mua bán; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Hoàng C (chết) và bà Lê Thị N, sinh năm 1954; vợ là Phan Thị Hồng N, sinh năm 1983; con có 02 người, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2020; anh, chị, em ruột có 04 người, lớn nhất sinh năm 1970, nhỏ nhất sinh năm 1986; tiền án: không; tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 13/7/2022, bị Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Công an tỉnh Vĩnh Long ra quyết định xử phạt với số tiền là 1.500.000đ, về hành vi đánh bạc trái phép, đã nộp phạt xong; Bị cáo được cho tại ngoại và hiện có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Văn U, sinh năm 1968 (vắng mặt)

2. Lê Văn T, sinh năm 1969 (có mặt)

3. Võ Minh T1, sinh năm 1982 (vắng mặt)

4. Phạm Minh T2, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Cùng ngụ: ấp N, xã T, huyện V, Vĩnh Long.

5. Trần Phước N, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp Đ, xã T, huyện V, Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 03/02/2023, Lê Hoàng Anh K cùng với Nguyễn Văn U, Lê Văn T1, Võ Minh T2 đến căn nhà bỏ hoang của bà Lê Thị Kim B thuộc ấp N, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long, để đánh bạc thắng thua bằng tiền. Cả nhóm đánh bạc với hình thức đánh bài 52 lá binh xập xám chia làm bốn tụ, mỗi tụ có 13 lá bài, mỗi ván bài được tính là người có bài lớn hơn thắng người có bài nhỏ hơn và số tiền thua mỗi bàn là 100.000đ. Trong lúc cả nhóm đang chơi bài thì có Phạm Minh T3, Trần Phước N đến xem đánh bài. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc cả nhóm đang chơi đánh bài thì bị Công an xã T phát hiện bắt quả tang.

Quá trình điều tra đã xác định:

Lê Hoàng Anh K sử dụng số tiền 500.000đ để chơi đánh bạc, kết quả hòa không thắng thua. Kiểm tra trên người của Kiệt thu giữ số tiền 7.200.000đ.

Nguyễn Văn U sử dụng số tiền 200.000đ để đánh bạc, kết quả hòa không thắng thua. Kiểm tra trên người của U thu giữ số tiền 2.000.000đ.

Lê Văn T1 sử dụng số tiền 200.000đ để đánh bạc, kết quả hòa không thắng thua. Kiểm tra trên người của T1 thu giữ số tiền 2.000.000đ.

Võ Minh T2 sử dụng số tiền 200.000đ để đánh bạc, kết quả hòa không thắng thua. Kiểm tra trên người của T2 thu giữ số tiền 2.000.000đ.

Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 1.100.000đ.

Qua điều tra, Lê Hoàng Anh K đã thừa nhận hành vi phạm tội.

Vật chứng thu giữ gồm:

02 (hai) bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng; tiền Việt Nam là 8.300.000đ (Tám triệu ba trăm ngàn đồng), trong đó: Tiền thu giữ trên chiếu bạc là 1.100.000đ (Một triệu một trăm ngàn đồng), tiền thu giữ trên người Lê Hoàng Anh K là 7.200.000đ (Bảy triệu hai trăm ngàn đồng).

Đối với Nguyễn Văn U, Lê Văn T1, Võ Minh T2 có hành vi chơi đánh bạc nhưng chưa cấu thành tội phạm nên Công an xã T đã ra quyết định xử phạt hành chính.

Đối với Phạm Minh T3, Trần Phước N không có tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền, nên không xử lý.

Đối với bà Lê Thị Kim B do khi xảy ra sự việc và hiện tại không có mặt tại địa phương, nên không có căn cứ để xử lý.

Cáo trạng số: 26/CT-VKSHVL ngày 25/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm đã truy tố Lê Hoàng Anh K về tội: Đánh bạc; theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lê Hoàng Anh K; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, để tuyên phạt bị cáo Lê Hoàng Anh K mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng. Đề nghị tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm ngàn đồng). Trả lại cho Lê Hoàng Anh K số tiền 7.200.000đ (Bảy triệu hai trăm ngàn đồng).

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đã ăn năn, hứa không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Hoàng Anh K đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Bị cáo xác định không khiếu nại đối với quá trình tiến hành tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của điều tra viên, kiểm sát viên và lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung hay dùng nhục hình. Do đó, hành vi và các chứng cứ, tài liệu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, qua lời khai của bị cáo đã thể hiện: Khoảng 12 giờ ngày 03/02/2023, Lê Hoàng Anh K cùng với Nguyễn Văn U, Lê Văn T1, Võ Minh T2 đến căn nhà bỏ hoang của bà Lê Thị Kim B thuộc ấp N, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long, để đánh bạc với hình thức đánh bài 52 lá binh xập xám thắng thua bằng tiền. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc cả nhóm đang chơi đánh bài thì bị Công an xã T phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm ngàn đồng). Do đó, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: Đánh bạc; theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thừa nhận hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật tham gia sát phạt nhau chỉ vì lợi ích của bản thân. Hành vi của bị cáo gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, nên đối với bị cáo cần xử lý nghiêm để phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng:

Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm, vật chứng gồm: 02 (hai) bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng, đây là vật chứng bị cáo và các đối tượng Nguyễn Văn U, Lê Văn T1, Võ Minh T2 dùng vào việc thực hiện tội phạm, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 8.300.000đ (Tám triệu ba trăm ngàn đồng), trong đó: Tiền thu giữ trên chiếu bạc là 1.100.000đ (Một triệu một trăm ngàn đồng) đây là tiền bị cáo và các đối tượng dùng để đánh bạc, nên cần tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước, tiền thu giữ trên người Lê Hoàng Anh K là 7.200.000đ (Bảy triệu hai trăm ngàn đồng), đây là tiền riêng của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo. (theo ủy nhiệm chi ngày 25/4/2023 của Công an huyện Vũng Liêm tại Kho bạc Nhà nước huyện Vũng Liêm)

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đã xem xét đến các chứng cứ được đưa ra thẩm tra tại phiên tòa, đã đánh giá đúng hành vi, tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo. Về đề nghị mức hình phạt, đại diện Viện kiểm sát đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo. Do đó, chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.

Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẻ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng Anh K phạm tội “Đánh bạc”;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng Anh K: 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/6/2023.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long, cùng gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian chịu thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.

2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng.

Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm ngàn đồng).

Trả lại cho bị cáo K số tiền 7.200.000đ (Bảy triệu hai trăm ngàn đồng).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ