vanban.org

Bản án 32/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 26/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đinh Văn M, Đàm Minh C, Nguyễn Thị T phạm tội Đánh bạc.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Văn M 07 (bẩy) tháng tù. Thời hạn chấp hành tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời hạn tạm giữ từ 21-12-2022 đến 27-12-2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn M và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đinh Văn M, Đàm Minh C, Nguyễn Thị T phạm tội Đánh bạc.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

`` +
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN LÃNG
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 32/2023/HS-ST
Ngày 26-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Duy Pha.

Ông Nguyễn Thị Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồng Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lộc Nam Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 08a/2023/HSST-QĐ ngày 13 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Đinh Văn M; tên gọi khác: Không có, sinh ngày 06 tháng 12 năm 1986 tại huyện T, tỉnh Cao Bằng. Nơi cư trú: số E, Khu F, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Thi A, sinh năm 1949 và bà Hoàng Thị E, sinh năm 1945; có vợ: Cao Thị I, sinh năm 1994 và 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án: Không có, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21-12-2022 đến ngày 27-12-2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện nay đang bị tạm giam trong vụ án khác, có mặt.

2. Đàm Minh C; tên gọi khác: Không có, sinh ngày 29 tháng 5 năm 1974 tại huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: số X, Khu Y, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đàm Hoa U, sinh năm 1938 và bà Vy Thị I1, sinh năm 1938; có vợ: Chu Thị O, sinh năm 1982 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án: Không có, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21-12-2022 đến ngày 27-12-2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

3. Nguyễn Thị T; tên gọi khác: Không có, sinh ngày 29 tháng 4 năm 1978 tại huyện A, tỉnh Hưng Yên. Nơi cư trú: Số X1, Khu F thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn U1, sinh năm 1949 (đã chết) và bà Hoàng Thị I2, sinh năm 1953; có chồng: Đặng Văn O1, sinh năm 1974 (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 1998; tiền án: Không có, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21-12-2022 đến ngày 27-12-2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nông Văn X, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

2. Chị Hoàng Thị Đ, sinh năm 1983; địa chỉ: Khu F thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người chứng kiến: Bà Hoàng Thị D, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 21-12-2022 tại khu F, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, các bị cáo Đinh Văn M, Đàm Minh C và Nguyễn Thị T đã thực hiện hành vi Đánh bạc với hình thức mua, bán số lô, số đề nhằm mục đích hưởng lợi. Để xác định thắng, thua bằng tiền, các bị cáo căn cứ vào Kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thường hàng ngày rồi so sánh kết quả các số lô, số đề trúng thưởng ngày hôm đó để thanh toán trả tiền cho những người tham gia đánh bạc, cụ thể cách thức và hình thức đánh bạc được thực hiện như sau:

- Cách thực đánh bạc: Khoảng giữa tháng 12 năm 2022 bị cáo Đinh Văn M bắt đầu ghi số lô, số đề cho những người tham gia đánh bạc trực tiếp đến quán bán hàng tạp hóa ở khu F, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn gặp Đinh Văn M để ghi số lô, số đề và nhận ghi qua tin nhắn Zalo điện thoại. Đến khoảng 18 giờ 00 phút hàng ngày Đinh Văn M tổng hợp các số lô, số đề đã ghi trong ngày hôm đó vào một tờ giấy rồi chụp ảnh gửi toàn bộ các số lô, số đề từ tài khoản Zalo “Quang Vinh” đến tài khoản “Không cảm xúc” của bị cáo Nguyễn Thị T, nhằm mục đích hưởng lợi.

- Hình thức chơi Lô: Mỗi số lô là một cặp số có 02 (hai) chữ số, số lô trúng thưởng là số trùng với 02 (hai) số cuối của một trong 27 (hai mươi bẩy) giải thưởng Kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày hôm đó. Một điểm lô tương ứng với số tiền 22.500đ (hai mươi hai nghìn năm trăm) hoặc 23.000đ (hai mươi ba nghìn đồng), tùy thuộc vào người chơi ít hay nhiều, người chơi thắng sẽ nhận được 80.000đ/01 điểm lô. Đinh Văn M chuyển đi là 21.800 đồng, hưởng lợi 1.200 đồng/điểm hoặc 700 đồng/điểm tùy vào người mua có quen biết hay không.

- Hình thức chơi đề: Mỗi số đề là một cặp số có 02 (hai) chữ số, số đề trúng thưởng là số trùng với 02 (hai) số cuối của giải đặc biệt Kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày hôm đó. Một điểm đề tương ứng với số tiền 1.000 đồng (một nghìn), người chơi thắng sẽ nhận được 70.000 đồng/01 điểm. Mỗi điểm đề Đinh Văn M chuyển đi là 730 đồng, hưởng lợi 270 đồng/điểm.

- Hình thức chơi Lô xiên: Mỗi lô xiên (xiên 2, xiên 3) là những cặp số có 02, 03 chữ số, số lô xiên trúng thưởng là những cặp số (hai số, ba số) trùng với 02 (hai) số cuối của 27 (hai mươi bẩy) giải thưởng Kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày hôm đó. Một điểm lô xiên tương ứng số tiền 1.000 đồng (một nghìn), người chơi thắng sẽ nhận được 10.000 đồng mỗi điểm lô xiên hai; 40.000 đồng mỗi điểm lô xiên ba. Mỗi điểm lô xiên Đinh Văn M chuyển đi là 730 đồng, hưởng lợi 270 đồng.

- Hình thức chơi ba càng: Mỗi số đề ba càng là những cặp số có 03 (ba) chữ số, số ba càng trúng thưởng là những cặp số gồm 03 (số) trùng với 03 (ba) số cuối của giải đặc biệt Kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng ngày hôm đó. Một điểm ba càng tương ứng số tiền 1.000 đồng (một nghìn), người chơi thắng sẽ nhận được 400.000 đồng/điểm.

Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 21-12-2022 tổ Công tác Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại khu F, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn đã phát hiện bắt giữ đối với Đinh Văn M đang thanh toán tiền đánh bạc cho Nông Văn X, sinh năm 1992 cư trú tại thôn B, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, căn cứ lời khai và kết quả xác minh làm rõ đối tượng liên quan, cùng ngày cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã thi hành Lệnh bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đinh Văn M, Đàm Minh C và Nguyễn Thị T để điều tra làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật. Vật chứng thu giữ của Đinh Văn M gồm: 6.640.000đ (sáu triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng); 01 (một) chiếc bút bi, mực đen (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu đen, số IMEI 352983097175575 (đã qua sử dụng); 02(hai) tờ giấy màu trắng, có ghi các số lô, số đề do Đinh Văn M ghi cho Nông Văn X trong ngày 21-12-2022 (thu giữ của Nông Văn X).

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đinh Văn M, Đàm Minh C và Nguyễn Thị T, phát hiện thu giữ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6s plus màu vàng, có số IMEL 353302074409122 (đã qua sử dụng) thu giữ của Đinh Văn M; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo Funtouch Os, màu bạc có số IMEL1: 862310058942418; số IMEL2: 862310058942400 (đã qua sử dụng) và 2.200.000 đồng thu giữ của Đàm Minh C; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO F9, màu xanh đậm, có số IMEL1: 860163043929772; IMEL2: 860163043929764 (đã qua sử dụng) thu giữ của Nguyễn Thị T.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận: Ngày 21-12-2022 có Nông Văn X được mua với Đinh Văn M 100 (một trăm) điểm lô và 20 (hai) điểm đề, với tổng số tiền 2.270.000đ (Hai triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng). Đến khoảng 18 giờ 40 phút cùng ngày, sau khi xem Kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng thì Nông Văn X trúng thưởng 20 (Hai mươi) điểm lô được số tiền 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm nghìn đồng) nên Nông Văn X đi đến nhà Đinh Văn M lấy tiền, khi Nông Văn X và Đinh Văn M đang trao đổi thanh toán tiền trúng thưởng thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt giữ, đưa về trụ sở Công an thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn để lập biên bản và làm rõ hành vi đánh bạc. Xác định tổng số tiền đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, số đề giữa Nông Văn X với Đinh Văn M là 3.870.000đ (Ba triệu, tám trăm bảy mươi nghìn đồng).

- Ngoài ra Đinh Văn M còn mua bán số lô, số đề cho Hoàng Thị Đ, sinh năm 1983 trú tại khu F, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn và Đàm Minh C, sinh năm 1974 trú tại khu Y, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn cụ thể Hoàng Thị Đ mua với Đinh Văn M số lô 63x5 điểm với giá 23.000 đồng/điểm. Xác định tổng số tiền đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô giữa Hoàng Thị Đ với Đinh Văn M là 115.000đ (Một trăm mười lăm nghìn đồng).

- Bị cáo Đàm Minh C mua với bị cáo Đinh Văn M các số đề: 90x60đ, 44x50đ, 99x50đ, 73x40đ, 79x15đ, 38x15đ; (83, 88, 52, 94, 08, 80) x10đ; (09, 21, 49, 97) x5đ, 37x20đ, 65x80đ; (56, 70, 07)x5đ. Các số lô (90, 88, 37,73)x20đ, 09x5đ. Các số 3 càng 044x10đ, 573x10đ, 579x10đ, 565x20đ, 665x5đ, 973x5đ; (173, 152, 094, 180)x3đ, 290x5đ, 390x5đ, 190x30đ, 499x10đ với giá tiền 22.500đ/điểm lô; 900đ/điểm đề và 3 càng. Số tiền lô, đề mà Đinh Văn M ghi cho Đàm Minh C là 2.422.800đ (Hai triệu bốn trăm hai mươi hai nghìn tám trăm đồng). Sau khi so sánh Kết quả sổ số miền Bắc mở thưởng ngày hôm đó thì C trúng số lô 37x40đ tương đương được số tiền 3.200.000đ (Ba triệu hai trăm nghìn đồng). Như vậy tổng số tiền đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, số đề trong ngày 21/12/2022 giữa Đàm Minh C với Đinh Văn M là 5.622.800đ (Năm triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn tám trăm đồng).

Đến khoảng 18 giờ 00 phút ngày 21-12-2022 bị cáo Đinh Văn M tổng hợp tất cả các số lô, số đề rồi chuyển cho bị cáo Nguyễn Thị T, cụ thể như sau:

+ Các số đề 97x30đ, đầu 5x5đ, đầu 6x5đ, 56x5đ, 09x5đ, 21x5đ, 49x5đ, 37x20đ, 65x80đ, 56x5đ, 70x5đ, 07x5đ, 40x50đ, 50x10đ, 51x10đ, 52x10đ, 23x20đ, 63x15đ, 61x5đ, 32x50đ, 38x10đ, 92x20đ, 87x20đ; đầu 9x70đ, đầu 6x60đ, đầu 7x60đ; 81x30đ, 91x30đ, 71x30đ, 61x30đ, 44x10đ, 61x10đ, 41x40đ, 44x100đ, 09x40đ, 44x50đ, 73x20đ, 79x5đ, 38x5đ, 57x10đ, 58x10đ, 53x100đ, 39x20đ, 69x20đ, 93x20đ, 57x20đ, 75x20đ, 58x20đ, 59x20đ, 19x50đ, 91x50đ, 79x20đ, 97x20đ, 93x10đ, 16x10đ, 37x10đ, 81x20đ, 91x20đ, 71x20đ, 61x20đ. Tổng cộng là 3.315 điểm đề, mỗi điểm đề là 730đ (Bảy trăm ba mươi đồng), tương ứng với tổng số tiền là 2.419.950đ (Hai triệu bốn trăm mười chín nghìn chín trăm năm mươi đồng).

+ Các số lô: 61x2đ, 31x2đ, 90x10đ, 88x10đ, 37x10đ, 73x10đ, 88x30đ, 12x10đ, 21x10đ, 48x15đ, 84x15đ, 40x10đ, 29x10đ, 92x10đ, 13x80đ, 31x20đ, 66x10đ, 77x10đ, 88x10đ, 02x10đ. Tổng cộng là 294 điểm lô, mỗi điểm lô là 21.800đ (Hai mươi mốt nghìn tám trăm đồng), tương ứng với tổng số tiền là 6.409.200đ (Sáu triệu bốn trăm linh chín nghìn hai trăm đồng).

+ Các số lô xiên: (68, 37)x10đ; (55,08)x40đ; (81,71)x 50đ; (81, 85)x50đ; (58,38,02)x 20đ; (37,73,69)x 10đ. Tổng cộng là 180 điểm lô xiên, mỗi điểm lô xiên là 730đ (Bảy trăm ba mươi đồng), tương ứng với tổng số tiền là 131.400đ (Một trăm ba mươi mốt nghìn bốn trăm đồng).

+ Các số ba càng: 044x 15đ, 044x10đ, 573x30đ, 579x10đ, 565x20đ, 665x5đ, 973x5đ, 173x5đ, 094x5đ, 152x5đ, 180x5đ, 290x5đ, 390x5đ, 190x30đ, 499x10đ. Tổng cộng là 165 điểm ba càng, mỗi điểm ba càng là 730đ (Bảy trăm ba mươi đồng), tương ứng với số tiền là 120.450đ (Một trăm hai mươi nghìn bốn trăm năm mươi đồng).

Tổng số tiền lô, đề bị cáo Nguyễn Thị T nhận với bị cáo Đinh Văn M qua tài khoản Zalo trong ngày 21-12-2022 là 9.081.000đ. Sau khi so sánh Kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng cùng ngày 21-12-2022 thì số lô, đề Đinh Văn M đã chuyển cho Nguyễn Thị T trúng được 65 điểm đề con số 62; 10 điểm lô con số 12 và 20 điểm lô con số 37; tổng cộng số tiền trúng lô, đề là 7.350.000đ. Như vậy tổng số tiền đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, số đề giữa Đinh Văn M với Nguyễn Thị T trong ngày 21-12-2022 là 16.431.000đ (Mười sáu triệu bốn trăm ba mươi mốt nghìn đồng).

- Ngoài ra Đinh Văn M còn khai nhận được ghi các số lô, số đề cho một số người khác lạ mặt (Nhưng không biết họ tên, tuổi, địa chỉ). Sau đó Đinh Văn M chụp ảnh các số lô, số đề rồi thông qua tài khoản Zalo “Quanh Vinh” gửi hình ảnh đến tài khoản Zalo “Không cảm xúc” của Nguyễn Thị T. Do không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ của những người tham gia đánh bạc và không thu giữ được đồ vật, tài liệu liên quan đến hành vi đánh bạc trước đó giữa Đinh Văn M với Nguyễn Thị T và những người tham gia đánh bạc, nên cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ.

Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 26 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo Đinh Văn M, Đàm Minh C, Nguyễn Thị T về Tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa các bị cáo Đinh Văn M, Đàm Minh C, Nguyễn Thị T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Cụ thể các bị cáo thừa nhận ngày 21-12-2022 tại Khu F thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn các bị cáo đã thực hiện hành vi Đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, số đề. Cụ thể bị cáo Đàm Minh C đánh bạc với bị cáo Đinh Văn M với tổng số tiền là 5.622.800 đồng bao gồm cả số tiền đã trúng thưởng; bị cáo Đinh Văn M và bị cáo Nguyễn Thị T thực hiện hành vi đánh bạc với tổng số tiền là 16.431.000 đồng bao gồm tiền ghi và cả tiền trúng thưởng, cụ thể số tiền bị cáo Đinh Văn M ghi được 9.081.000đ (Chín triệu không trăm tám mươi mốt nghìn đồng) trong đó Nông Văn X, Hoàng Thị Đ, một số khách vãng lai đã trả tiền, còn Đàm Minh C chưa trả, thực tế số tiền những người ghi số lô, đề trả cho bị cáo là 6.658.200đ (Sáu triệu sáu trăm năm mươi tám nghìn hai trăm đồng) tuy nhiên bị cáo đã tiêu dùng cá nhân đi còn lại số tiền đang bị tạm giữ 6.640.000đ (Sáu triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng). Số tiền lô, đề ghi được bị cáo cũng chưa chuyển tiền cho bị cáo Nguyễn Thị T. Bị cáo Nguyễn Thị T cũng chưa thanh toán tiền trúng thưởng cho những người đã ghi số lô, số đề. Bản thân bị cáo Đàm Minh C cũng chưa trả tiền ghi lô, đề cho bị cáo Đinh Văn M.

Tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo Đinh Văn M, Đàm Minh C, Nguyễn Thị T. Đề nghị Hội đồng xét xử Tuyên bố các bị cáo Đinh Văn M. Đàm Minh C, Nguyễn Thị T phạm tội Đánh bạc.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Đinh Văn M, xử phạt bị cáo từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Đàm Minh C, xử phạt bị cáo từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng thử thách.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Thị T, xử phạt bị cáo từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm thử thách.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Đinh Văn M, Đàm Minh C, Nguyễn Thị T.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Truy thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 2.422.800đ (hai triệu bốn trăm hai mươi hai nghìn tám trăm đồng) đối với bị cáo Đàm Minh C.

- Truy thu nộp Ngân sách nhà nước 7.350.000đ (bẩy triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) đối với bị cáo Nguyễn Thị T.

- Truy thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 18.200 đồng (mười tám nghìn hai trăm đồng) đối với bị cáo Đinh Văn M.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc bút bi, mực đen (đã qua sử dụng).

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu đen, có số IMEL 352983097175575 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6s plus màu vàng, có số IMEL 353302074409122 (đã qua sử dụng) thu giữ của Đinh Văn M; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo Funtouch Os, màu bạc có số IMEL1: 862310058942418; số IMEL2: 862310058942400 (đã qua sử dụng) thu giữ của Đàm Minh C; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO F9, màu xanh đậm, có số IMEL1: 860163043929772; IMEL2: 860163043929764 (đã qua sử dụng) thu giữ của Nguyễn Thị T.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 6.640.000đ (sáu triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) của bị cáo Đinh Văn M.

- Trả lại cho bị cáo Đàm Minh C số tiền 2.200.000đ (hai triệu hai trăm nghìn đồng).

Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nh mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về trình tự, thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đã được tống đạt các văn bản quyết định tố tụng và thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đều có giá trị pháp lý, đúng theo quy định của pháp luật.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nông Văn X, chị Hoàng Thị Đ có đơn xin xét xử vắng mặt; vắng mặt người chứng kiến bà Hoàng Thị D nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án; do vậy việc vắng mặt những người tham gia tố tụng trên không ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo Đinh Văn M, Đàm Minh C, Nguyễn Thị T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở xác định: Ngày 21-12-2022 tại khu F thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi Đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, số đề. Cụ thể bị cáo Đàm Minh C đánh bạc với Đinh Văn M với tổng số tiền được xác định là 5.622.800đ (Năm triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn tám trăm đồng), bị cáo Đinh Văn M và bị cáo Nguyễn Thị T thực hiện hành vi đánh bạc với tổng số tiền được xác định là 16.431.000 (Mười sáu triệu bốn trăm ba mươi mốt nghìn đồng). Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo Đinh Văn M, Đàm Minh C, Nguyễn Thị T về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và có đủ năng lực nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

Để có mức hình phạt phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cần xem xét đến vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau:

Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn. Bị cáo Đinh Văn M là người tổng hợp các số lô, số đề đã ghi trong ngày sau đó chuyển cho bị cáo Nguyễn Thị T nhằm mục đích hưởng lợi.

Về nhân thân: Các bị cáo Đàm Minh C, Nguyễn Thị T chưa có tiền án, tiền sự nên xác định bị cáo là người có nhân thân tốt. Đối với bị cáo Đinh Văn M chưa có tiền án, tiền sự, tuy nhiên trong quá trình tại ngoại lại bị khởi tố về tội Đánh bạc và đang bị tạm giam trong vụ án khác nên xác định bị cáo là người có nhân thân không tốt, có thái độ coi thường pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện. Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nh quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra bị caó Đinh Văn M được hưởng thêm tình tiết giảm nh “có bố là Đinh Thi A được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất trong kháng chiến chống mỹ cứu nước; Đàm Minh C được hưởng thêm tình tiết giảm nh , có bố là Đàm Hoa U được tặng thưởng Huân chương hạng nhì trong kháng chiến chống mỹ cứu nước nên các bị cáo Đinh Văn M, Đàm Minh C được hưởng tình tiết giảm nh theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét thấy, bị cáo Đinh Văn M trong quá trình tại ngoại lại bị khởi tố về tội Đánh bạc và đang bị tạm giam trong vụ án khác, điều đó thể hiện bị cáo là người ham mê cờ bạc, có thái độ coi thường, không chấp hành các quy định của pháp luật, do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, qua đó phòng ngừa chung trong xã hội. Đối với các bị cáo Đàm Minh C, Nguyễn Thị T có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có ý thức chấp hành đầy đủ mọi quy định của địa phương nơi cư trú và chính sách pháp luật của Nhà nước, trong quá trình tại ngoại không có hành vi vi phạm pháp luật. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nh quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, có đủ các điều kiện cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo Đàm Minh C, Nguyễn Thị T ra khỏi đời sống xã hội mà để cho các bị cáo cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và sự giúp đỡ của gia đình cũng đảm bảo tính giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, các bị cáo Đinh Văn M, Đàm Minh C, Nguyễn Thị T còn có thể bị phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) đến 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Qua xác minh tại giai đoạn điều tra và xét hỏi công khai tại phiên tòa thấy rằng các bị cáo Đinh Văn M, Nguyễn Thị T không đứng tên tài sản riêng gì. Bị cáo Đàm Minh C đứng tên sở hữu ngôi nhà cấp 4 tuy nhiên ngôi này vợ và 03 con của bị cáo đang sinh sống. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Đinh Văn M, Đàm Minh C, Nguyễn Thị T.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng bị cáo Đàm Minh C chỉ ghi số lô, số đề với bị cáo Đinh Văn M và chưa thanh toán tiền, sau này khi biết kết quả mới thanh toán tiền thắng thua. Do đó cần truy thu số tiền 2.422.800đ (hai triệu bốn trăm hai mươi hai nghìn tám trăm đồng) mục đích để sử dụng vào việc đánh bạc của bị cáo Đàm Minh C. Đối với số tiền trúng lô đề, sau khi có kết quả, bị cáo Nguyễn Thị T là người tổng hợp, sau đó chuyển tiền cho bị cáo Đinh Văn M để bị cáo Đinh Văn M thanh toán cho những người trúng lô, đề. Do đó cần truy thu số tiền trúng lô đề đối với bị cáo Nguyễn Thị T, cụ thể truy thu số tiền 3.200.000 (Ba triệu hai trăm nghìn đồng) bị cáo Đàm Minh C trúng lô đề, 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm nghìn đồng) anh Nông Văn X trúng lô đề, 2.550.000đ (Hai triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) những người khác trúng. Đối với bị cáo Đinh Văn M cần truy thu số tiền 18.200đ (Mười tám nghìn hai trăm đồng) là tiền những người ghi lô đề đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc bút bi, mực đen (đã qua sử dụng) vì đây là công cụ phạm tội theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu đen, có số IMEL 352983097175575 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6s plus màu vàng, có số IMEL 353302074409122 (đã qua sử dụng) thu giữ của Đinh Văn M; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo Funtouch Os, màu bạc có số IMEL1: 862310058942418; số IMEL2: 862310058942400 (đã qua sử dụng) thu giữ của Đàm Minh C; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO F9, màu xanh đậm, có số IMEL1: 860163043929772; IMEL2: 860163043929764 (đã qua sử dụng) thu giữ của Nguyễn Thị T, là điện thoại các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 6.640.000đ (Sáu triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) của bị cáo Đinh Văn M do đây là tiền bị cáo có được do ghi lô đề theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại cho bị cáo Đàm Minh C số tiền 2.200.000đ (hai triệu hai trăm nghìn đồng) vì không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với 02 (hai) tờ giấy màu trắng, có ghi các số lô, số đề trong ngày 21/12/2022, thu giữ của Đinh Văn M xét thấy là vật chứng của vụ án do đó ngày 24-4-2023 Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã có Công văn số 410/CV-TA về việc giao vật chứng trong vụ án gửi Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xuất vật chứng để lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

Đối với Nông Văn X, Hoàng Thị Đ có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề với bị caó Đinh Văn M; qua xem xét chưa đủ yếu tố truy cứu trách nhiệm hình sự, về nhân thân chưa bị xử lý vi phạm, chưa bị kết án liên quan đến tội này. Do vậy ngày 20-02-2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bằng hình thức phạt tiền 350.000 đồng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Các Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt, về việc xử lý vật chứng và các vấn đề khác về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Đinh Văn M;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Đàm Minh C;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 17; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Thị T;

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 331; 332; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đinh Văn M, Đàm Minh C, Nguyễn Thị T phạm tội Đánh bạc.

2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Đinh Văn M 07 (bẩy) tháng tù. Thời hạn chấp hành tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời hạn tạm giữ từ 21-12-2022 đến 27-12-2022.

- Xử phạt bị cáo Đàm Minh C 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 26-4-2023.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 26-4-2023.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với tất cả các bị cáo.

3. Các biện pháp tư pháp:

- Truy thu của bị cáo Đàm Minh C số tiền 2.422.800đ (Hai triệu bốn trăm hai mươi hai nghìn tám trăm đồng).

- Truy thu của bị cáo Nguyễn Thị T số tiền 7.350.000đ (Bẩy triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).

- Truy thu của bị cáo Đinh Văn M cần truy thu số tiền 18.200đ (Mười tám nghìn hai trăm đồng).

4. Về xử lý vật chứng:

4.1. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc bút bi, mực đen (đã qua sử dụng).

4.2. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu đen, có số IMEL 352983097175575 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6s plus màu vàng, có số IMEL 353302074409122 (đã qua sử dụng) thu giữ của Đinh Văn M; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo Funtouch Os, màu bạc có số IMEL1: 862310058942418; số IMEL2: 862310058942400 (đã qua sử dụng) thu giữ của Đàm Minh C; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO F9, màu xanh đậm, có số IMEL1: 860163043929772; IMEL2: 860163043929764 (đã qua sử dụng) thu giữ của Nguyễn Thị T.

(Các vật chứng trên hiện đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 4 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn).

4.3. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 6.640.000đ (Sáu triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) của bị cáo Đinh Văn M.

4.4. Trả lại số tiền 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng) thu giữ của Đàm Minh C nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Số tiền trên hiện đang được tạm giữ tại số tài khoản 35910105477900000 tại Kho bạc nhà nước huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn – tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo giấy nộp tiền ngày 07-4-2023).

5. Về án phí: Buộc các bị cáo Đinh Văn M, Đàm Minh C, Nguyễn Thị T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ